Tin Tức Cập Nhật 24/7

Tin Mới Nhất

HOT VIDEO CHANNEL - TV Bài nói về Biển Đông & TQ cực hay của Trung tương Phạm Văn Dỹ - Chính Ủy QK 7
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đoàn Hưng Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đoàn Hưng Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Ngoại giao Obama: thận trọng hay rụt rè?


Nếu so sánh giữa hai ông Putin và Obama thì người ta có thể thấy: nước Nga tuy kinh tế yếu và quân đội không mạnh nhưng ông Putin lại rất hung hăng can thiệp ra bên ngoài để bảo vệ cái gọi là quyền lợi cốt lỏi; ngược lại Mỹ dù vượt trội trên cả hai phương diện nhưng bị phê bình là thiếu quyết đoán về ngoại giao.


Cùng tác giả
» Xem tiếp
Liệu tính cẩn trọng của Obama là cần thiết để Hoa Kỳ không can dự vào những cuộc phiêu lưu quân sự mới, hay chính sự dè dặt của Mỹ lại là một trong những nguyên nhân khiến nhiều cuộc khủng hoảng bùng phát ngày càng mạnh lôi kéo theo nhiều quốc gia? Nhiệm kỳ 8 năm của Tổng Thống Obama sắp chấm dứt và di sản ngoại giao của ông sẽ còn là một đề tài tranh luận lâu dài vì những gì ông làm – hay không làm - sẽ để lại hậu quả ít nhất trong nửa phần đầu của thế kỷ 21.

Chính sách ngoại giao của Tổng Thống Obama được tóm gọn trong 4 chữ tiếng Anh “Don’t do anything stupid” tức là đừng làm chuyện dại dột. Thái độ này trái ngược hẳn với cung cách cao bồi “Shoot from the hip” hay là bắn trước hỏi sau của vị tiền nhiệm George W. Bush, người đã khiến nước Mỹ sa lầy vào cuộc chiến vô cùng chia rẻ lại thêm tốn kém về ngân sách, nhân mạng và uy tín tại Iraq. Có hai dòng quan điểm, một bên lập luận cho rằng Hoa Kỳ phải chấm dứt việc phiêu lưu can dự vào mọi lúc mọi chổ mà không cần đắn đo suy nghĩ đến hậu quả; ngược lại là phản bác cho rằng trong ngoại giao phải chấp nhận rủi ro, và trước các thách thức vô cùng phức tạp nên thế giới đang cần đến sự lãnh đạo của Mỹ nhưng lại không tìm thấy từ nơi ông Obama.

Tưởng cũng nên nhắc lại Obama đắc cử với hai mục tiêu chính nhằm phục hồi nền kinh tế sau vụ Đại Suy Trầm 2008 và rút quân khỏi vũng lầy Iraq; kế đó là ổn định an ninh tại Afghanistan và phục hồi (reset) bang giao với Nga vốn đang suy đồi từ sau chiến tranh Georgia và từ khi ông Putin tái đắc cử lần thứ 3. Đến năm 2011 Hoa Kỳ lại thêm quyết định chuyển trục sang Châu Á với bài viết của cựu Ngoại Trưởng Hillary Clinton trên tạp chí Foreign Policy. Theo thói quen của dân Mỹ cho điểm lãnh đạo thì nhận xét riêng của người viết rằng ông Obama được điểm B trung bình về bộ môn kinh tế với nhịp độ phục hồi vừa phải, C kém về bộ môn châu Á vì tiến độ chuyển trục vẫn ngập ngừng, F tức là thi rớt về Trung Đông, Afghanistan và Nga bởi không tìm ra giải pháp cho các cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên từng con số điểm nói trên không thể phản ảnh toàn bộ vấn đề, vì giả sử ông Obama thành công trên mọi lãnh vực ngoại giao nhưng chỉ riêng nền kinh tế không phục hồi thì toàn bộ nhiệm kỳ của ông vẫn thất bại do nơi sức mạnh của Hoa Kỳ cùng mối quan tâm của dân chúng vẫn chính là kinh tế.

Hai sai lầm ngoại giao bị xem là lớn nhất của Obama gồm việc rút quân quá sớm khỏi Iraq, và nuốt lời không dội bom tại Syria sau khi đã vạch ra làn ranh đỏ ngăn cấm việc xử dụng vũ khí hoá học. Các quyết định này khiến hệ phái Sunni (Saudi Arabia), Shiites (Iran), cọng thêm phong trào Hồi Giáo cực đoan cùng Thổ Nhĩ Kỳ và Nga cùng nhau đánh giá rằng Hoa Kỳ không còn lòng dạ nào để nắm vai trò chủ động trong tình hình tại Trung Đông. Các phe nhảy vào lấp khoảng trống và tranh nhau mở rộng ảnh hưởng khiến khủng hoảng ngày càng lan rộng dẫn đến sự bùng phát của nhóm ISIS.

Ngược lại ông Obama muốn lợi dụng ưu thế bất ngờ của công nghệ khai thác dầu hỏa từ đá phiến để thoát khỏi sự lệ thuộc năng lượng và ảnh hưởng chính trị của Do Thái, qua đó giảm thiểu các cuộc phiêu lưu chính trị vào Trung Đông. Đã đến lúc Hoa Kỳ ngừng làm đạo diễn để Trung Đông phải tự giải quyết những khủng hoảng trong thế giới Hồi Giáo từ tranh chấp Sunni-Shiite, đến xung đột Do Thái và Palestine, tình trạng thiếu dân chủ và thiếu việc làm trong dân chúng. Nổi bất mãn trong xã hội được xoa dịu bởi các liều thuốc độc qua chính sách khuyến khích chủ nghĩa tôn giáo cuồng tín cực đoan và khơi dậy nổi hận thù với Do Thái và Tây Phương. Tuy nhiên cánh chống đối ông Obama cho rằng chính các quyết định không can thiệp đã dẫn đến tình trạng tệ hại tồi tệ ngày hôm nay, vì tựa như ngọn lửa còn nhỏ khi nhen nhúm nên chỉ cần một nổ lực vừa phải có thể dập tắt thay vì đợi đến lúc hỏa hoạn bùng phát rồi trước sau cũng phải nhào vào chữa cháy. Nói một cách khác là ông Bush làm bể nồi cơm nhưng ông Obama không chịu quét dọn nên gánh phần trách nhiệm.

Giữa khủng hoảng Syria và việc Nga chiếm một phần đất của Ukraine không có liên hệ trực tiếp, nhưng Tổng Thống Putin là một võ sĩ nhu đạo tìm chổ yếu của đối phương trước khi tấn công. Nhiều nhận xét đánh giá ông Putin đã kết luận nơi bài học Syria rằng ông Obama sẽ phản ứng không đủ mạnh nếu Nga ngăn chận sự bành trướng của NATO xuống Nam Âu, bởi Hoa Kỳ sẽ tránh né để một cuộc khủng hoảng mới không nổ bùng trong lúc Âu Châu còn lệ thuộc vào khí đốt từ Nga và lại đang cắt giảm ngân sách quốc phòng trong tình trạng kinh tế khủng hoảng. Trước đây Saddam Hussein cũng nghĩ rằng Mỹ sẽ không can thiệp khi Iraq tấn công Kuwait nhưng ông này đã tính toán hoàn toàn sai lầm; ngược lại Putin tính đúng khi sát nhập Crimea và dựng nên hai cộng hoà phía Đông Ukraine vì các phản ứng của Tây Phương rất thận trọng và giới hạn. Tất nhiên không ai đọc biết được tâm lý lãnh tụ nhưng bàn cờ thế giới đôi khi cũng giống như một ván xì-phé: nước Nga tuy ít vốn nhưng liều lĩnh thấu cáy, còn Hoa Kỳ dù dư tiền nhưng lại không dám nhào theo vì đã bị cháy phỏng tay trong ván trước tại Iraq; hay trên võ đài, khi kẻ thắng không phải vì đánh giỏi mà dám lì lợm chịu đau giống như nước Nga tuy suy sụp do giá dầu cực thấp và kinh tế bị phong tỏa nhưng vẫn hùng hổ trong thế tấn công, trong lúc Mỹ tuy có nhiều ưu thế nhưng lại rụt rè sợ đau không dám phản ứng mạnh. Ngược lại cũng có quan điểm cho rằng ông Obama kiên nhẫn vì biết rằng nước Nga hung hãn nhưng nội lực yếu nên sẽ có lúc Nga phiêu lưu vượt khỏi khả năng kém cỏi của mình. Hoa Kỳ dù vấp ngã tại Trung Đông và Nam Âu nhưng vẫn đứng vững trong khi chế độ Putin không thể tồn tại nếu tính toán sai lầm chỉ một nước cờ.

Ngoại giao Obama thể hiện nhất quán nơi chính sách chuyển trục sang Á Châu, nhưng từ khi cựu Ngoại Trưởng Hillary Clinton từ chức thì ông John Kerry chỉ sang Á Châu một vài lần đâu đó rồi mất hút vì dành toàn thời gian vào Syria, Crimea, Iran, ISIS,… Chính sách ngoại giao tại Á Châu lại dành cho hai vị Bộ Trưởng Quốc Phòng là Chuck Hagel và Ash Carter. Tin tức về các chuyến công du của Obama sang Á Châu lẽ ra chiếm hàng tít lớn nhưng đều bị lu mờ bởi những biến chuyển quốc tế dồn dập: năm 2015 vì khủng bố tại Pháp; 2013 hủy bỏ công du do tranh chấp ngân sách với Quốc Hội; 2012 lúc Do Thái tấn công dãy Gaza; 2010 hủy bỏ công du vì bận vận động cho dự luật bảo hiểm sức khỏe ObamaCare ra trước Quốc Hội và vụ cháy nổ dàn khoan dầu ở vịnh Mexico. Có vài bài báo cho biết trong ban tham mưu nồng cốt gồm 5-10 nhân vật quyết định về đường lối ngoại giao thì chỉ có Tổng Thống Obama là kiên trì nhất với chính sách chuyển trục trong khi các cố vấn khác lại không đặt trọng tâm vào Á Châu, nên chính Obama đã quyết định tiếp tục công du tham dự APEC năm 2015 thay vì hũy bỏ sau vụ ISIS khủng bố tại Pháp. Có thể vì vậy nên trong vụ chiến hạm Lassen tiến vào vùng 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo của Trung Quốc lại mang nét thận trọng cố hữu của Obama: phản ứng quá chậm và quá ít.

Thêm vào đó ông Tập Cận Bình có một lợi thế khi xuất ngoại rất thường xuyên, liên tục sang Hoa Kỳ, rồi Âu Châu, qua Nga, xuống Đông Nam Á, đi Phi Châu để vận động cho quyền lợi Trung Quốc trên khắp thế giới. Trái lại ông Obama ít ra nước ngoài vì mỗi lần công du tổ chức an ninh rất phức tạp, lại thêm phải ở trong nước chống trả với Quốc Hội do đảng Cọng Hoà chiếm đa số. Chính sách chuyển trục của Hoa Kỳ đạt được một mục tiêu là hợp tác với các quốc gia đại dương gồm Nhật, Phi, Singapore, Úc và Ấn nhằm ngăn của Trung Quốc thoát ra bên ngoài chuổi đảo thứ nhất; nhưng bên trong chuổi đảo và nhất là ở biển Đông thì Bắc Kinh ảnh hưởng và thách thức ngày càng nhiều còn Hoa Kỳ và các nước trong khu vực chưa có đối sách rỏ rệt.

Để kết luận, ông Obama đã đạt hai mục tiêu đầu là phục hồi kinh tế và rút khỏi Iraq, nhưng lại không đủ tư thế lãnh đạo trước những biến chuyển dồn dập sau đó. Thành quả ngoại giao của ông có thể chính nhờ thái độ Đừng làm chuyện dại dột để Hoa Kỳ không phung phí nhân vật lực trong một vũng lầy mới. Nếu là thuyền trưởng thì ông có công giữ tàu không lật trong giông bão để rồi giao tàu cho thuyền trưởng sau này định hướng. Tuy nhiên không một ứng cử viên nào của đảng Cộng Hoà tranh cử chức Tổng Thống có kinh nghiệm về ngoại giao, ngược lại bà Clinton tuy rất lão luyện nhưng chưa chứng tỏ có được tầm nhìn của Tổng Thống Wilson hay Roosevelt. Thiên cơ bất khả lậu, chúng ta còn phải chờ xem thế giới diễn biến thế nào vào thế kỷ 21.

Đoàn Hưng Quốc
Theo Việt Báo

Một đề án cho xã hội dân sự ở Việt Nam đến gần dân hơn


Bài viết này dựa trên các tài liệu sách, báo Mỹ về xã hội dân sự (XHDS) ở Trung Quốc, Nga, và bài viết của blogger Nguyễn Đoan Trang “Xã hội dân sự ở Việt Nam: Đang nổi lên nhưng cần… gần dân hơn” đăng trên Bauxite Việt Nam ngày 04/08/2014.

Kinh nghiệm tại Trung Quốc và Nga cho thấy các XHDS gặp ba trở lực trong quần chúng: tâm lý sợ hãi vì bị nhà cầm quyền đe doạ, thái độ thờ ơ, vô cảm vốn khởi đầu từ ý nghĩ buông xuôi, và lối sống hưởng thụ ích kỷ. Dân chúng lại không có tập quán tham gia hay đóng góp tiền bạc cho XHDS, trái với các nước Tây Phương khuyến khích sinh hoạt này từ trong Tiểu học. Để xây dựng truyền thống nói trên sẽ cần hơn một thế hệ, ngay cả khi được quốc gia ưu đãi khuyến khích. Sẽ mất thêm rất nhiều thời gian nếu bị nhà cầm quyền cấm đoán, phá hoại.

Riêng tại Việt Nam, truyền thống từ thiện thường do nhà thờ, chùa chiền phát động, nhưng đang mất dần đi tính chính đáng vì nhà cầm quyền chỉ thừa nhận các đoàn thể tôn giáo quốc doanh, cấm đoán những sinh hoạt độc lập vị tha. Hơn thế nữa, ngay cả các cơ sở tôn giáo cũng nảy sinh tình trạng tôn sùng chức sắc, mê tín dị đoan để cầu xin phúc lợi.

Các XHDS tại những nước độc tài hoạt động vô cùng khó khăn: thiếu nhân sự, tài chánh và tổ chức nên không đến gần dân; không gần dân thì không phát triển được.

Người Mỹ có câu “All politics are local”, tức là mọi sinh hoạt chính trị đều phải sát liền với địa phương để thu phục nhân tâm. Các XHDS tại những nước độc tài dùng kỹ thuật Internet để thực hiện phương châm này trong hoàn cảnh thiếu thốn nhân sự và tài chánh.

Bên cạnh những phản biện lớn như về dân chủ nhân quyền, các XHDS nhắm vào những mục tiêu rất khu vực và sát với nhu cầu quần chúng như kiến nghị trên mạng về tình trạng hỗn loạn tại một bến xe đò; rác rưởi không được dọn dẹp ở một góc chợ; quán ăn ồn ào sau 10 giờ tối tại một khu phố... Để đáp ứng với tâm lý thụ động của quần chúng thì người dân chỉ ủng hộ hay chống đối bằng cách bấm nút Like hay Don’t Like như trên Facebook, còn nếu cho thêm tên tuổi và địa chỉ thì càng tốt. Bài vở, hình ảnh được cập nhật để người dân theo dõi tình trạng có cải thiện hay bị bỏ lơi.

Kiến nghị việc lớn có thể bị gác ngoài tai, nhưng đối với những tệ nạn tại các địa phương bị quá nhiều người phàn nàn, xoi mói thì những “đầy tớ nhân dân” cấp nhỏ có thể nhột nhạt, sợ bị khiển trách mà phải chỉnh đốn ít nhiều. Hơn nữa đây là việc làm đúng, ảnh hưởng đến đời sống cá nhân và gia đình của họ chính ngay trong khu vực. Tạo được vài sửa đổi thì người dân sẽ cảm thấy tiếng nói của mình có kết quả và gần gũi hơn với các XHDS.

Tiến thêm một bước là những phản ảnh, hình ảnh trên mạng về tệ nạn có tầm ảnh hưởng rộng: tình trạng hối lộ ở một sân bay; nước thải xả bừa bãi từ một khu công nghiệp; công an đánh đập dân chúng tại một phường X quận Y... Đến lúc này các XHDS sẽ bị tấn công đàn áp vì đụng chạm đến quyền lợi của giai cấp đặc quyền, nhưng đồng thời sẽ nhận được nhiều đáp ứng từ quần chúng do đề cập đến những vấn đề thiết thực.

Tất nhiên tiến trình nói trên sẽ mất rất nhiều thời gian và công phu. Nhưng vì là mạng nên các XHDS không nhất thiết phải có nhân sự tại từng địa phương. Điều này có thể giúp giải quyết phần nào tình trạng thiếu nhân sự, tài chánh và tổ chức mà vẫn đi sát được với nhu cầu thiết thực của quần chúng.

Thật ra mô hình này không phải mới mà đã được áp dụng rất thành công tại Việt Nam: trang Beauxite Việt Nam bắt đầu từ công việc phản đối cụ thể đề án bô-xít ở Tây Nguyên, từ đó xây dựng uy tín để trở thành báo mạng hàng đầu tập trung các nhà văn hóa và trí thức, được biết đến từ trong ra ngoài nước.

Công việc phản ảnh các tệ nạn xã hội hiện đang dày đặc trên báo chí cả lề phải lẫn trái hay trên những trang mạng. Điều khác biệt là các XHDS tham gia hay phát động với mục tiêu tạo nên thay đổi trong nhận thức. Nhà tranh đấu nổi tiếng nhất hiện thời tại Nga là Alexei Navalny đã tổ chức biểu tình cả trên đường phố lẫn trên mạng vào dịp cuối năm 2014 vì anh hiểu được tâm lý thụ động của người dân dưới chế độ độc tài.

Tiếng nói trên mạng ngày càng được nhiều chính quyền quan tâm. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt thu thập được 100 ngàn chữ ký nên được mời vào tòa Bạch Ốc trình bày về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam. Ngay cả tại các nước độc tài, tiếng nói trên mạng dù bị giới hạn nhưng không vì thế mà giới cầm quyền không theo dõi. Nhưng mục tiêu của XHDS là dùng mạng Internet phản ánh nguyện vọng bức thiết của quần chúng, và giúp người dân đến gần với XHDS ngay khi thói quen thụ động vẫn còn ngự trị.

Dĩ nhiên không gian ảo có những giới hạn nhất định của nó. Các XHDS tại Trung Quốc và Nga còn rất phôi thai, chưa đạt mục tiêu dân chủ nhân quyền, nhưng trong hoàn cảnh vô cùng bó buộc họ vẫn cố gắng đến gần với quần chúng. Các kinh nghiệm nói trên cần được chia sẻ giữa các nhà tranh đấu trong những nước độc tài.

Phong trào dân chủ Việt Nam đang chứng tỏ sức sống và sự sáng tạo với các chiến dịch như Không bán nước, Chúng tôi muốn biết, và ngay bây giờ trên Facebook với các hình ảnh đăng tải Tôi không thích đảng CSVN. Bài viết này chỉ là một đóng góp nhỏ, khiêm tốn của một người đang sống ở nước ngoài mà không đứng trên tuyến đầu đấu tranh cùng với các anh chị em của những XHDS Việt Nam.

Đoàn Hưng Quốc
Theo Bauxite Việt Nam

Bài học Ukraine cho Việt Nam


Hai dân quân thân Nga canh chừng một vùng ngoại ô Mariupol, Ukraine. (Hình minh họa: Francisco Leong/AFP/Getty Images)

Ukraine và Việt Nam cùng giống nhau ở chỗ nằm sát cạnh Nga và Trung Quốc nên thường bị hai cường quốc này xem như khu vực sân nhà. Đến năm 2013 chính quyền Ukraine bị lật đổ vì tham nhũng và đánh mất lòng dân, nhưng trước đó cánh thân Nga rất mạnh do nhận được nhiều quyền lợi kinh tế và hậu thuẫn chính trị. Ngược lại khuynh hướng thân Tây phương và ước vọng vào nền dân chủ pháp trị ngày càng rõ rệt trong quần chúng. Ukraine nay trở thành tiền đồn tranh chấp giữa Nga và Âu-Mỹ thì chúng ta cần thiết phải phân tích những bài học của đất nước bất hạnh này để suy nghĩ về con đường tương lai cho Việt Nam.

Bài học thứ nhất là các quốc gia độc tài chuyên chế như Nga (hay Trung Quốc) không thể nào chấp nhận để Ukraine (hay Việt Nam) trở thành dân chủ kiểu Tây phương. Có nhiều nguyên do lịch sử và địa chính trị khiến hai cường quốc lớn xem những nước nhỏ láng giềng như chư hầu trong vòng kiềm toả của sân nhà; nhưng cạnh đó còn thêm nỗi quan ngại sâu xa rằng thay đổi thể chế tại Ukraine (hay Việt Nam) sẽ lan rộng để trở thành mối đe dọa cho sự sống còn (existential threat) của hệ thống cầm quyền chuyên chế trong chính nước họ. Do đó vào năm 2013 khi nhà nước thân Nga tại Ukraine bị dân chúng biểu tình chống đối, Mạc Tư Khoa đã có những đề nghị vô cùng hào phóng nhằm giảm 50% giá khí đốt cộng thêm 15 tỷ USD trợ giúp kinh tế để cứu vớt cho Tổng thống Viktor Yanukovich không bị lật đổ; ngược lại khi cách mạng quần chúng thành công và Ukraine có triển vọng sẽ ký kết hiệp ước tham gia Liên Hiệp Âu Châu, Putin đã không ngần ngại tung ra mọi thủ đọan kinh tế và quân sự để nước này nếu không trở lại quỹ đạo của Nga cũng sẽ mãi mãi bị chia rẽ và suy yếu.

Phong trào quần chúng tại Ukraine dù chống phe thân Nga nhưng không hề có mục tiêu trở thành bàn đạp bành trướng dân chủ sang cường quốc lân bang. Ngược lại Putin có quan điểm hoàn toàn đối nghịch xem một nước Ukraine dân chủ và cải cách như mối đe dọa trực tiếp cho hệ thống cầm quyền tại Nga, vì ông sợ dân Nga sẽ bị kích động để lật đổ ngôi vị Tổng thống của chính mình. Cá nhân Putin tự xem mình là đấng cứu rỗi để mang nước Nga trở lại vai trò cường quốc sau một thời gian dài bị Tây phương xem thường từ sau Chiến Tranh Lạnh, nên mọi toan tính liên hệ đến vai trò của ông tức nhằm ngăn trở sự trổi dậy của nước Nga. Chúng ta có thể liên hệ đến Bắc Kinh mang quan điểm tương tự đối với Việt Nam. Cũng thế, Tây phương xem việc Ukraine xích gần với Âu Châu như tiến trình tự phát theo đòi hỏi của quần chúng mong muốn dân chủ chớ không phải do Tây phương dàn cảnh và xúi dục trong chiến lược siết chặc vòng vây phong tỏa nước Nga; ngược lại Putin đánh giá đây là bước kế tiếp trong những toan tính của NATO để lật đổ chính quyền hợp pháp tại Nga. Cuộc đối đầu xảy ra tại Ukraine có thể ví như tranh chấp giữa hai loại người sống ở sao Hỏa và sao Thủy vốn mang quan điểm trái ngược nên thái độ vô cùng khác biệt, và điều không may là sự kiện tương tự có thể tái diễn tại Việt Nam.

Putin nhanh tay chiếm đoạt Crimea để phòng trường hợp chính quyền cách mạng Kiev hủy bỏ hiệp ước quân sự cho phép Hạm Đội Hắc Hải đặt bản doanh tại cảng Sevastopol, và ngăn ngừa không cho hải cảng tối quan trọng này trở thành căn cứ quân sự của NATO. Người ta có thể tiên liệu Bắc Kinh sẽ phản ứng giống vậy dù với cung cách hành xử khác đi, nhưng mục tiêu vẫn nhằm ngăn cản không cho Mỹ sử dụng Cam Ranh do vị trí quan trọng chiến lược nhìn ra Biển Đông – cho dù là nhà nước Việt Nam có sẽ thân Trung Quốc hay không.

Nga trả giá đắt vì các biện pháp phong tỏa kinh tế của Tây phương nhưng Putin không vì đó mà lùi bước. Khi nước lớn tự xem quyền lợi cốt lõi bị xâm phạm thì họ sẽ chấp nhận các mất mát vô cùng to lớn để thỏa mãn tham vọng – giống như Hitler đến giờ phút cuối vẫn tự xem mình là cứu tinh cho dù đã đưa dân tộc Đức đến thảm hoạ lịch sử. Hơn nữa trong tình trạng căng thẳng thì các nhà lãnh đạo độc tài rất khó thối lui vì quyền lực của họ đặt trên nền tảng của tinh thần dân tộc vốn bị khơi dậy và đang bùng phát rất mạnh – sự kiện này, một lần nữa có thể sẽ lại tái diễn tại khu vực Đông Á.

Ngược lại những biện pháp cấm vận sẽ khiến nền kinh tế Tây phương vốn chưa phục hồi càng thêm chậm lại. Dân chúng càng bất mãn nên các nước Âu Châu sẽ trở nên yếu ớt và dễ bị chia rẽ. Tổng Thống Putin tính toán mở rộng thương mại với Trung Quốc và các nước đang trỗi dậy (như Nam Mỹ) để bù đắp cho các thiệt hại do lệnh phong tỏa từ Âu-Mỹ. Nếu thành công, Nga sẽ là nước đầu tiên phá vỡ chính sách phong tỏa kinh tế của Tây phương. Nga sẽ chứng minh được rằng một khối kinh tế mới có thể được thành hình đủ khả năng đối đầu với sức mạnh quan trọng nhất của Âu-Mỹ, khi đó một trật tự thế giới mới mà Tây phương không còn nắm vai trò chủ động mới thật sự bắt đầu, những nước như Iran hay Cuba không còn sợ bị Hoa Kỳ cô lập nữa.

Bắc Kinh theo dõi kỹ lưỡng phản ứng của Mỹ tại Ukraine. Nga và Hoa Lục đều có lợi thế sân nhà nên dùng đủ mọi thủ đoạn công khai hay mờ ám nhằm tạo áp lực lên các nước lân bang. Trong khi đó Ukraine (và Việt Nam) lại không nằm trong khu vực an ninh cốt lõi của Mỹ. Trường hợp Nga tấn công Tây-Âu hay Trung Quốc đe dọa nền an ninh Nhật-Hàn thì Hoa Kỳ sẽ phải can thiệp, nhưng ngược lại không thể có chiến tranh giữa Mỹ-Nga-Hoa do các xung đột biên giới hay lãnh hải với Ukraine hay Việt Nam, nhất là khi hai nước này không có liên minh quân sự với Tây phương. Cho đến nay Âu-Mỹ-Nhật vẫn không có biện pháp răn đe hữu hiệu đáp trả khi Nga-Hoa dùng các kế hoạch xâm lăng phi quy ước (non-conventional aggression) vào những nước láng giềng yếu kém. Trung Quốc xử dụng tàu kiểm giám phun vòi rồng; Nga dùng quân nhân ngụy trang thành dân sự; bước kế tiếp sẽ là những leo thang mới, dù tác động chính trị rất sâu xa nhưng vẫn không đủ để trở thành một cuộc đối đầu quân sự giữa các cường quốc.

Ngược lại Âu-Mỹ cũng phải tự xét lại chính sách ngoại giao của chính mình: NATO có thể nào tiếp tục thu nhận thành viên mới trong khi dân chúng Tây phương không hề có quyết tâm bảo vệ trong trường hợp bị xâm lược? Hoa Kỳ có thể thành hình hay tăng cường những liên minh quân sự nào (như với Úc-Nhật) mà họ có thể tin tưởng vào đồng minh, và quyền lợi đủ thiết yếu để họ phải giữ trọn lời cam kết?

Trở lại Ukraine, trong khi mục tiêu của cuộc cách mạng quần chúng là thiết lập nền dân chủ kiểu Tây phương thì nay bị Nga dùng mọi thủ đoạn để phá hỏng. Chính quyền tại Kiev thay vì tập trung chống tham nhũng, cải tổ hệ thống luật pháp và hành chính để phục hồi kinh tế nhưng nay bị chi phối vào các đe dọa quốc phòng. Mùa hè đang chấm dứt, người dân Ukraine bi quan nhìn đến một mùa Đông thiếu khí đốt trong lúc chi phí chiến tranh ngày càng đè nặng. Một nước nhỏ, xã hội bị phân hoá và nhà nước yếu luôn là mục tiêu cho nước lớn lũng đọan. Nhà cầm quyền độc tài vốn dễ bị hăm dọa hay mua chuộc, còn một chính quyền dân chủ nhưng phôi thai lại dễ bị phá hoại!

Một điểm đáng lưu ý là Thượng nghị sĩ McCain đã sang Ukraine vào tháng 12-2013 khi cao trào dân chủ chống Nga đang lên, nay ông lại sang Việt Nam vào tháng 08-2014 khi tình hình Việt-Trung trở nên căng thẳng. TNS McCain nhiều uy tín thuộc cánh diều hâu, ông chủ trương phát huy vai trò lãnh đạo của nước Mỹ trên toàn cầu và đã hô hào dội bom Syria, cung cấp thiết bị cho Ukraine… ngược lại Hành pháp vốn thi hành chính sách ngoại giao thường tỏ ra thận trọng hơn nhiều.

Trong cuộc đấu trí giữa các cường quốc thì nguyện vọng dân tộc của những nước nhỏ thường bị bỏ quên. Nhưng chính khát vọng dân chủ của người dân Ukraine đã làm thay đổi bàn cờ Âu Châu. Đất nước của họ phải trả giá bằng chiến tranh và đối diện với tương lai vô cùng bấp bênh chính là những thách đố không may cho thân phận nhược tiểu. Liệu các nhà dân chủ có đủ kiên cường và tài ba để thu phục lòng dân và lèo lái con thuyền đất nước trong phong ba bão táp, câu hỏi này chỉ có dân tộc Ukraine - và Việt Nam - mới tự tim ra lời giải đáp.

Đoàn Hưng Quốc
Theo Diễn Đàn Thế Kỷ

Sự mù quáng vô tận


Ở Tây phương, hầu như ai cũng đồng ý ba tên siêu sát thủ hàng đầu của thế kỷ 20 là Hitler, Stalin và Mao Trạch Đông.

Trong ba người, Hitler là kẻ bị căm ghét nhất và bị lên án nhiều nhất, nhưng thật ra, theo các sử gia, đó lại là người gây ra tội ác ít nhất. Số nạn nhân của những tên siêu sát thủ này thay đổi theo từng tài liệu và từng cách tính, nhưng nói chung, của Hitler là khoảng từ 17 đến 30 triệu; của Stalin là từ 40 đến 62 triệu; của Mao Trạch Đông là từ 45 đến 75 triệu. Nhìn vào con số nào, tối thiểu hay tối đa, Stalin và Mao Trạch Đông cũng đều vượt xa Hitler.

Tất cả các tội ác của Hitler đều được công khai hóa. Ở nhiều quốc gia, không phải việc ca ngợi mà cả việc hoài nghi hay biện bạch cho các tội ác ấy cũng đều bị phê phán gay gắt, thậm chí, bị xem là phạm pháp. Hitler trở thành biểu tượng của cái ác, của tội chống lại nhân loại. Mọi người đều biết điều đó. Và công nhận điều đó.

Tội ác của Stalin được giấu giếm kỹ hơn. Suốt cả mấy chục năm, ông được xem như một vị cha già dân tộc, hơn nữa, một cứu tinh của nhân loại. Nhiều nhà thơ, nhà văn và trí thức nổi tiếng khắp nơi trên thế giới đua nhau ca tụng và góp phần thần thánh hoá ông. Những lời tụng ca ấy lan đến tận Việt Nam, trong thơ Tố Hữu: “Thương cha, thương mẹ, thương chồng / Thương mình thương một, thương Ông thương mười.”

Tuy nhiên, sau khi Stalin chết được một thời gian, trong thời xét lại ở Liên xô, một số tội ác của Stalin bắt đầu được vạch trần; đặc biệt, sau khi Liên xô sụp đổ, hầu như toàn bộ những tội ác ấy đều được phanh phui. Người ta thấy Stalin không khác gì một con quỷ dữ. Số nạn nhân bị hành quyết chính thức lên đến cả triệu người. Số người bị chết, dưới hình thức này hay hình thức khác, trong các trại tù và trại cải tạo lên đến mấy triệu. Số nạn nhân mà người ta không thể đếm hết là số những người thuộc các sắc tộc khác, kể cả người Đức và người Ukraine, bị Stalin ra trục xuất, đày đến những nơi hoang vu hẻo lánh và đầy băng giá, cũng như những người dân bị chết vì đói khát do các chính sách kinh tế và kiểm soát lương thực ngặt nghèo của Stalin. Con số này lên đến vài chục triệu.

Nhận ra sự thật ấy, hầu như ở khắp nơi trên thế giới, người ta đều lên án Stalin. Từ đầu thập niên 1990, khi chế độ Cộng sản ở Nga và Đông Âu cáo chung, rất nhiều bức tượng của Stalin bị giật sập. Tuy nhiên, gần đây, ở Nga, dường như le lói chút xu hướng muốn phục hồi uy tín của Stalin cho một mưu đồ chính trị gì đó. Tượng Statin được dựng lại ở Georgia, quê quán của ông, cũng như ở Moscow, trong quần thể tượng đài tưởng niệm các lãnh tụ Cộng sản. Dù sao, đó chỉ là một chỉ dấu nhỏ. Và nó cũng bị phê phán dữ dội. Một cách chính thức, chưa thấy một tên tuổi lớn nào dám công khai biện hộ cho Stalin.

Còn với Mao Trạch Đông?

Giống như trường hợp của Hitler và Stalin, rất khó biết được chính xác số nạn nhân bị chết dưới tay của Mao Trạch Đông. Họ gồm hai loại chính: Một là những người bị giết chết theo lệnh, trực tiếp hoặc gián tiếp, của Mao (ví dụ trong thời chiến tranh trước 1949, thời cải cách ruộng đất, thời chống xét lại và thời Cách mạng văn hóa) và hai là những người bị chết do các chính sách của Mao gây ra, từ các chính sách thanh trừng trong nội bộ đảng và các chính sách thanh tẩy chủng tộc ở Tibet đến các chính sách kinh tế điên khùng dẫn đến những nạn đói kinh hoàng nhất trong lịch sử Trung Quốc khiến cả hàng chục triệu người chết.

Ngoài việc giết người trực tiếp và gián tiếp, Mao Trạch Đông còn phạm nhiều sai phạm nghiêm trọng khác đối với đất nước Trung Quốc, trong đó, đáng kể nhất là: Một, phá nát nền văn hóa truyền thống vốn lừng lẫy khắp thế giới trong cả hơn hai ngàn năm; hai, làm kinh tế Trung Quốc hoàn toàn suy sụp và kiệt quệ; và cuối cùng, ba, đẩy cả một tỉ người vào tù ngục của một chế độ độc tài, độc đoán và vô nhân đạo. Trong ba sai phạm ấy, Đặng Tiểu Bình, với chính sách đổi mới từ giữa thập niên 1980, chỉ cứu chữa được hai sai phạm đầu. Còn chế độ độc tài thì vẫn còn đó, đè nặng lên cuộc sống của mọi người. Dù kinh tế phát triển nhanh, Trung Quốc vẫn nằm trong danh sách những nước chà đạp lên quyền làm người một cách trầm trọng nhất. Người dân Trung Quốc, dù no ấm, thậm chí, giàu có hơn, vẫn tiếp tục bị nghẹt thở dưới một chế độ độc đảng hà khắc.

Vậy mà, lạ, trong khi huyền thoại Hitler đã hoàn toàn sụp đổ, huyền thoại Stalin đã sụp đổ gần hết, huyền thoại Mao Trạch Đông tại Trung Quốc hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Cách đây mười mấy năm, đi Hong Kong, và cách đây chỉ có mấy năm, đi Trung Quốc, tôi vẫn thấy các bức tượng Mao nho nhỏ được bày bán đầy trong các tiệm; hình ảnh của ông vẫn xuất hiện đầy trên áo sơ-mi, ly tách và nhiều loại đồ trang trí khác. Bày bán nhiều như thế hẳn là có nhiều người mua, trong đó, có khá nhiều người thuộc giới trẻ. Đến Bắc Kinh, vẫn thấy bức tượng của Mao dựng uy nghi ngay trước cổng Thiên An Môn. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, những lời ca ngợi Mao vẫn đầy dẫy.

Nhưng sự sùng bái đối với Mao Trạch Đông được thấy rõ nhất là vào kỷ niệm 120 ngày sinh của ông vào cuối tháng 12 vừa qua. Chính phủ Trung Quốc chi ra cả thảy hai tỉ rưỡi đô la cho việc tưởng niệm (bao gồm cả việc bảo tồn ngôi nhà cũ của Mao cũng như việc trùng tu một trung tâm du lịch ở địa phương). Một bức tượng Mao bằng vàng ròng trị giá 20 triệu bảng Anh được dựng lên để dân chúng đến cúng vái. Cúng vái thực sự. Với nhang khói nghi ngút. Mà số người đến cúng vái như vậy, theo báo chí, lên đến cả mấy trăm ngàn người. Họ ùn ùn kéo về từ mọi miền trên đất nước. Một bài báo đăng trên tờ Telegraph ở Anh chạy tít: “Ở Trung Quốc, Mao Chủ tịch vẫn còn lớn hơn cả Chúa Jesus” (In China, Chairman Mao still bigger than Jesus). Trong bài, ký giả dẫn lời một y tá 23 tuổi: “Mao là một vị thần ở Phương Đông” (Mao is a god in the East).

Thật ra, hiện tượng sùng bái lãnh tụ như vậy cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Sùng bái là tâm lý chung của loài người. Nguyên nhân chính là sự yếu đuối với hai khía cạnh: Một, tâm lý bầy đàn; và hai, ước mơ được “cứu rỗi” qua hình ảnh của thần tượng: người ta hoặc nhìn các thần tượng ấy như giấc mơ của chính mình hoặc hy vọng thần tượng sẽ làm thay đổi đời mình. Ở Tây phương, trong nền văn hóa đại chúng và nặng tính chất tiêu thụ, nhiều người cũng mê mệt với các hoàng tử và các công chúa hay các ngôi sao trong các lãnh vực âm nhạc, điện ảnh, thể thao, v.v… Tuy nhiên, kiểu sùng bái như vậy, về bản chất, khác hẳn kiểu sùng bái lãnh tụ. Người ta có thể mê mệt một ngôi sao trong làng giải trí nhưng không ai sẵn sàng chết hay hy sinh bất cứ thứ gì cho các ngôi sao ấy cả. Trong chính trị, ngược lại, sự sùng bái mang tính chất tôn giáo, do đó, có thể dẫn đến những hành vi tử vì đạo. Mức độ mê muội của sự sùng bái, do đó, lớn, sâu và nghiêm trọng hơn nhiều.

Ở các nước dân chủ, về phương diện chính trị, với các lãnh tụ, người ta có thể ngưỡng mộ, cực kỳ ngưỡng mộ, nhưng không sùng bái, hoặc nếu sùng bái, chỉ là một sự sùng bái có mức độ.

Với tư cách một hiện tượng xã hội, sự sùng bái lãnh tụ hầu như là một tâm lý đặc thù dưới các chế độ độc tài, từ độc tài quân phiệt đến độc tài Cộng sản. Dưới chế độ độc tài quân phiệt, ở Iraq có Sadam Hussein; ở Libya có Muammar Gaddafi; ở Malawi, có Malawi Hastings Banda; ở Togo có Gnassingbé Eyadéma; ở Turkey có Mustafa Kemal Atatürk; ở Turkmenistan có Saparmurat Niyazov. Nhưng nhiều nhất là dưới chế độ Cộng sản: Ở Liên xô, có Lenin và Stalin; ở Albania, có Enver Hoxha; ở Romania, có Nicolae Ceaușescu; ở Ba Lan, có Józef Piłsudski; ở Việt Nam, có Hồ Chí Minh; ở Bắc Hàn có nguyên cả dòng họ Kim, hết cha đến con rồi đến cháu, hết Lãnh tụ Vĩ đại đến Lãnh tụ Kính yêu; ngay ở Afghanistan trước đây, Nur Muhammad Taraki, theo đòi Cộng sản, cũng tự xưng là một “Lãnh tụ Vĩ đại” và là một “Vì sao ở Phương Đông”, v.v..

Lý do của việc gắn liền giữa chế độ độc tài và sự sùng bái lãnh tụ rất dễ hiểu: Tất cả các chế độ độc tài đều sử dụng sự sùng bái của dân chúng đối với lãnh tụ như một trong những chiến lược chính để xây dựng và bảo vệ chế độ. Không có chính nghĩa và cơ sở pháp lý, họ chỉ có một cách duy nhất để tồn tại là mê hoặc dân tâm. Biện pháp chính để mê hoặc là tuyên truyền. Nhưng muốn tuyên truyền một cách hiệu quả thì lại cần đến hai điều kiện khác: Một, nắm toàn bộ các phương tiện truyền thông để có thể dập tắt tất cả những tiếng nói khác, đặc biệt, những tiếng nói trái chiều; và hai, trình độ dân trí thấp đủ để có thể tin những lời nói dối trá.

Ở Trung Quốc, sự độc quyền thông tin vẫn tồn tại. Nhưng còn dân trí thấp? Trên nguyên tắc, có cảm tưởng như đó là một nghịch lý. Một đất nước có truyền thống lịch sử và văn hóa huy hoàng đến vậy không thể có dân trí thấp. Một nền kinh tế phát triển nhanh và mạnh như vậy cũng không thể có dân trí thấp. Nhưng trên thực tế, đặc biệt trong lãnh vực chính trị, người ta lại không thể không nói trình độ dân trí của Trung Quốc, nói chung, còn khá thấp.

Thấp nên mới mê tín lâu đến như vậy.

Và vì mê tín lâu nên chế độ độc tài mới kéo dài. Dài triền miên.

Người ta thường nói độc tài đi đôi với ngu dân là vậy.

Nguyễn Hưng Quốc
Theo blog Nguyễn Hưng Quốc

Những diễn biến phức tạp trong các cuộc cách mạng dân chủ


Đất nước nào khi chuyển mình từ độc tài sang dân chủ cũng đều muốn tiến trình sẽ xảy ra trong ôn hoà và trật tự như trường hợp của Miến Điện, thay vì bạo loạn và đầy bất trắc như tại Ai Cập. Nhưng hy vọng có thực hiện được hay không, hoặc cần có những chuẩn bị gì để tránh các xáo trộn chính trị khiến xã hội bị suy thoái trong lúc mục tiêu của cuộc cách mạng dân chủ bị lệch hướng - đây là vấn đề cần đặt ra, tuy không quá sớm cho dù không có trả lời dứt khoát.

Ảnh minh họa. VAOL file
Đặt tính của một nhà nước chuyên chế là cấm đoán không cho các đảng phái khác sinh hoạt hay tham gia điều hành đất nước. Vì thế khi giới cầm quyền bị sụp đổ tạo ra một khoảng trống rất lớn về chính trị. Những nhà đấu tranh cho dù có uy tín nhưng vì trước đây bị bắt bớ đàn áp nên thiếu kinh nghiệm tổ chức đoàn thể và lèo lái quốc gia. Trái lại tại một nước dân chủ, lấy thí dụ như ở Hoa Kỳ thì dù đảng Dân Chủ hay Cộng Hoà nắm giữ chính quyền thì đảng còn lại vẫn có vai trò thiểu số và tiếng nói đóng góp vào chính sách của nhà nước. Nhờ vậy nên mỗi khi lãnh đạo thay đổi thì đảng đắc cử đưa ngay ra được một bộ tham mưu mới vào chính quyền, trong đó gồm nhiều nhân sự có kinh nghiệm giúp cho quá trình chuyển tiếp không gặp trở ngại.

Tổng thống Then Sein của Miến Điện mặc dù xuất thân từ thành phần độc tài quân phiệt nhưng lại sớm nhận thức được nhu cầu dân chủ hoá của đất nước. Ông bắt đầu tiến trình này bằng cách trả tự do và chấp nhận cho bà Aun Sang Suu Ki cùng đảng Vì Dân tham gia sinh hoạt chính trị. Nhờ vậy đảng đối lập này có được ba bốn năm để góp phần điều hành đất nước. Nếu giả sử bà Aun Sang Suu Ki đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ tới thì bà sẽ có được một ban tham mưu với kinh nghiệm thực tế. Dân chủ đồng nghĩa với tương nhượng và thoả hiệp nên khoảng thời gian ba bốn năm sinh hoạt chính trị giúp cho đảng Vì Dân ý thức về nhu cầu lèo lái giữa khát vọng dân chủ của quần chúng và quyền lực trong đám tướng lãnh, áp lực từ Trung Quốc, và bất đồng tôn giáo giữa đa số Phật giáo và thiểu số đạo Hồi.

Trái lại tại Ai Cập việc ông Mubarak bị lật đổ một cách vô cùng đột ngột do phong trào quần chúng tự phát khiến các đảng chính trị còn lại không có đủ thời gian làm quen với công việc tổ chức và điều hành. Trong khi đó tâm lý dân chúng tuy ủng hộ cho phong trào dân chủ nhưng lại không dành cho một đảng phái chính trị nào nổi bật – cho dù phong trào quần chúng chỉ có thể lật đổ nhà cầmquyền còn điều hành quốc gia phải do nhân sự từ các đảng phái. Với khoảng trống đó nên cánh Huynh Đệ Hồi Giáo vốn có tổ chức và được hậu thuẩn của thành phần giáo sĩ đã thắng cử năm rồi. Nhưng sau đó họ lợi dụng thời cơ để đẩy mạnh Giáo Quyền nên gặp sức đề kháng dữ dội của đa số dân chúng muốn có một nhà nước thế tục và dân chủ. Cuộc đảo chánh tuần vừa rồi tuy lật đổ Tổng thống Morsi nhưng mang theo nguy cơ chia rẽ nội chiến nên là bước thoái trào của cách mạng.

Một ưu điểm khác ở Miến Điện nhờ vào uy tín quốc tế của bà Aun Sang Suu Ki nên phong trào dân chủ nhận được rất nhiều trợ giúp nơi Âu-Mỹ-Nhật: từ áp lực ngoại giao lên chính quyền quân phiệt cho đến việc nới lỏng phong toả kinh tế, hay các chương trình cố vấn tổ chức hệ thống ngân hàng và các luật lệ đầu tư. Trái lại tại Ai Cập vì không có một đảng phái dân chủ nổi bật nên Hoa Kỳ và Âu Châu dù bỏ hàng tỷ đô-la để viện trợ nhưng phần lớn dành cho quân đội, lý do là họ không tìm ra một đối tượng nào khác đáng tin cậy hơn để hậu thuẩn.

Bài viết này tuy không phân tích về các yếu tố xã hội và lịch sử vốn sẽ đòi hỏi một công trình khảo cứu công phu, nhưng nhằm nêu lên vị trí quan trọng của một nhà nước chuyên chế đương quyền: nếu vì quyền lợi lâu dài của quốc gia phải gấp rút mở cánh cửa dân chủ; bằng không rồi cũng sẽ có một phong trào quần chúng tự phát lật đổ độc tài, nhưng khi đó cái giá mà Tổ Quốc phải trả sẽ đắt hơn rất nhiều.

Đoàn Hưng Quốc
Theo Boxit Việt Nam
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑