Tin Tức Cập Nhật 24/7

Tin Mới Nhất

HOT VIDEO CHANNEL - TV Bài nói về Biển Đông & TQ cực hay của Trung tương Phạm Văn Dỹ - Chính Ủy QK 7
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Ngọc Thống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Ngọc Thống. Hiển thị tất cả bài đăng

Mỹ chuẩn bị “lật bài”, đánh sập chiến lược quân sự của Trung Quốc


Trong cuộc đối thoại chiến lược Trung-Mỹ vừa rồi, có nhiều chỉ dấu cho thấy Mỹ không nói suông, không ngồi nhìn và đang “lật bài”, chuẩn bị sử dụng "2 đòn cực hiểm" để trả đũa

Tàu ngầm Trung Quốc có thể giấu mình dưới lòng Biển Đông?
Đòn tập hậu mang tên Đài Loan

Nếu như bán vũ khí cho Đài Loan đã khiến Trung Quốc "giãy lên như đỉa phải vôi" thì vào ngày 25/6, Thượng viện Mỹ đã thông qua một đạo luật cho phép Mỹ tăng cường hợp tác quân sự với Đài Loan.

Theo đó, vùng lãnh thổ này được khuyến khích tham gia tập trận chung với Mỹ, bao gồm cả huấn luyện nâng cao khả năng tác chiến liên hợp hải - lục - không quân đề phòng tình huống Trung Quốc dùng vũ lực thu hồi Đài Loan.

Đây là lần đầu tiên kể từ vụ “khủng hoảng eo biển Đài Loan” năm 1996, Mỹ không chỉ tuyên bố bán vũ khí mà còn tập trận trong vùng “cấm địa” của Trung Quốc. Hành động này của Mỹ đã khiến Bộ Quốc phòng Trung Quốc vô cùng tức giận và phản đối quyết liệt.

Bán vũ khí, tập trận cùng với Đài Loan là hành động thách thức rắn nhất, trực tiếp vào chính sách “một Trung Hoa” của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Đây được coi như là đòn tập hậu cực kỳ nguy hiểm, buộc Trung Quốc phải co lực lượng từ tuyến đầu (trên Biển Đông) để đối phó với một thực tế bất ổn khi Mỹ và Đài Loan nghênh ngang trước mũi, trong vùng “cấm địa” của mình.

Mỹ muốn chứng tỏ cho Trung Quốc thấy rằng, nếu Trung Quốc thách thức an ninh về tự do hàng hải, hàng không, thách thức lợi ích Mỹ trên Biển Đông thì Mỹ sẵn sàng thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc không những trên Biển Đông mà cả Đài Loan.

Nếu "ly khai" là một từ ngữ tối kỵ trên đất nước Trung Hoa vĩ đại thì sự tồn tại của Đài Loan là một biểu tượng xấu mà bấy lâu nay giống như một khúc xương mắc ngay tại cửa họng của Trung Quốc.

Vì thế hơn ai hết, thu hồi Đài Loan là một nhiệm vụ mang tính lịch sử của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Tàu chiến Trung Quốc trong một cuộc tập trận
Đã có các cuộc tập trận gần đây của Trung Quốc với mục tiêu giả định là Đài Loan, tuy nhiên, đó mới chỉ là tập trận diễu võ giương oai mang tính đe dọa. Không ai hiểu khả năng sức mạnh của Trung Quốc bằng chính họ.

Hậu quả không lường hết của việc dùng vũ lực thu hồi Đài Loan đã khiến cho giới cầm quyền Bắc Kinh do dự, mất ý chí, không dám mạo hiểm, bởi chính Mỹ đang đứng đằng sau Đài Loan.

Trung Quốc những tưởng có thể đẩy Mỹ ra khỏi châu Á - Thái Bình Dương - khu vực địa chính trị quan trọng, bằng tuyên bố chủ quyền phi lý đối với gần như toàn bộ Biển Đông.

Nước này còn ảo tưởng rằng xây các đảo nhân tạo một cách phi pháp trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam sẽ làm Mỹ phải "cụp đuôi".

Nhưng không, chính thái độ hung hăng, bất chấp của Trung Quốc lại tạo động lực để Mỹ sẵn sàng tung ra đòn hiểm mang tên Đài Loan nhằm buộc Trung Quốc phải “co vòi”.

Đòn chỉ điểm tàu ngầm

Nếu chiếm được Biển Đông, Trung Quốc không chỉ biến nơi đây thành vùng đặc quyền kinh tế mà còn thành vùng “đặc quyền quân sự” và tuyến xuất phát tấn công thuận lợi của tàu ngầm các loại.

Trung Quốc hiện có một căn cứ tàu ngầm lớn, hiện đại ở Tam Á.

Để tránh làm mồi ngon cho tên lửa hành trình, không quân đối phương tấn công, thì khi có xung đột quân sự, về nguyên tắc chiến thuật, tất cả các tàu ngầm phải rời cảng, phân tán đến vị trí trú ẩn hoặc vị trí đợi thời cơ xuất phát, tấn công.

Biển Hoa Đông có mực nước khá nông, cộng với hệ thống săn ngầm hiện đại của liên quân Mỹ - Nhật Bản nên tàu ngầm Trung Quốc chẳng khác nào như cá nằm trên cạn.

Do đó, chỉ có Biển Đông là chỗ tốt nhất cho tàu ngầm vùng vẫy.

Nói là tốt nhất bởi nơi đây có độ sâu bảo đảm cho mọi loại tàu ngầm hoạt động, phương tiện phát hiện và săn ngầm của các quốc gia ven Biển Đông lại có nhiều hạn chế nên tàu ngầm Trung Quốc vừa an toàn, vừa giữ được bí mật.

Song, điều đáng sợ nhất với lực lượng tàu ngầm Trung Quốc là bị đối phương nắm chắc “đường đi lối về” và chỉ điểm chính xác từng chiếc tàu ngầm trên Biển Đông.

Việc Philipines cùng với máy bay săn ngầm P-3C Orion Nhật Bản tuần tra trên Bãi Cỏ Rong thuộc Biển Đông khiến Trung Quốc lo lắng, bất an.

Chưa kể, theo các nhà phân tích quân sự, nếu Mỹ sẵn sàng bán cho các quốc gia có liên quan trong khu vực loại máy bay săn ngầm hiện đại có thể phát hiện tàu ngầm rõ ràng, nhanh chóng thì Biển Đông không còn là nơi trú ẩn an toàn, bí mật cho tàu ngầm Trung Quốc.

Máy bay săn ngầm Mỹ tuần tra tại Biển Đông cũng vì mục đích đó và còn để sẵn sàng đối phó trường hợp các tàu ngầm Trung Quốc tiếp tục thách thức, đe dọa đến an ninh, cũng như tự do hàng hải trên tuyến đường vận tải biển huyết mạch trong khu vực.

Lúc đó, các tàu ngầm Trung Quốc ở Biển Đông có nguy cơ như “cá trong chậu” và chiến lược bành trướng về phía Biển Đông của Trung Quốc sẽ gặp vô vàn khó khăn.

Hơn ai hết, chỉ có Mỹ mới hiểu rõ vấn đề này và Trung Quốc sẽ vô cùng bất an, không dám mạo hiểm khi những quốc gia ven Biển Đông đều được trang bị máy bay săn ngầm hiện đại của Mỹ.

Có thể nói, “phá tan” nơi trú ẩn, bí mật, an toàn của tàu ngầm Trung Quốc trên Biển Đông là đánh sập chiến lược quân sự của Trung Quốc vươn ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Lê Ngọc Thống
SoHa

Quần đảo Trường Sa trong tầm nhìn địa chiến lược


"...Không có các căn cứ quân sự của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa thì không bao giờ Trung Quốc dám đổ tiền của xây dựng kênh đào Kra Isthmus..."

Khu vực được coi là sân sau của Trung Quốc dưới sự kiểm soát của các căn cứ quân sự của Trung Quốc xây trái phép, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam tại các đảo Trường Sa
Các tin khác »
» Xem tiếp
Bất kỳ hoạt động nào trên khu vực Biển Đông của Trung Quốc đều gắn chặt và tương tác lớn với địa thế chiến lược của Việt Nam.

Lâu nay các nhà quân sự, chính trị đã phân tích, nêu bật rất nhiều ý nghĩa, vai trò của quần đảo Trường Sa trong chiến lược của Trung Quốc, đều cho rằng, xây các căn cứ quân sự trên đó để khống chế Biển Đông, khống chế tuyến hàng hải quốc tế và eo biển Malacca ; bảo vệ "đường sinh mạng" của mình, hay để biến Biển Đông thành ao nhà, biến thành nơi trú ẩn cho tàu ngầm, là nơi xuất phát tấn công lý tưởng để phá vỡ hệ thống bao vây của Mỹ ngăn chặn Trung Quốc tiến ra Thái Bình Dương….

Tuy nhiên, mọi điều có vẻ như chưa đủ và chưa thực tế về tầm nhìn chiến lược lâu dài của Trung Quốc trên Biển Đông và khu vực Đông Nam Á.

Sự cọ xát mạnh về địa chính trị trên khu vực Châu Á-Thái Bình Dương qua hoạt động của các cường quốc, càng ngày càng lộ rõ đáp án cốt lõi, phần nào giúp ta hiểu được vấn đề…

Tránh "dãy đá ngầm" Malacca….

Nếu như Trung Quốc coi tuyến hàng hải trên Biển Đông như là "đường sinh mạng" của mình thì eo biển Malacca chính là tử huyệt. Khi eo biển Malacca bị phong tỏa thì tuyến hàng hải từ Ấn Độ Dương, Trung Đông qua Biển Đông bị tê liệt. Vấn đề đặt ra ở đây là mối quan hệ giữa eo biển Malacca và quần đảo Trường Sa là gì ? Tại sao quần đảo Trường Sa, địa quân sự của nó, với Trung Quốc, quan trọng hơn là để tránh eo biển Malacca ?

Trước hết mà nói, khi đã gọi khống chế tuyến hàng hải thì phải bảo đảm 2 điều kiện là ngăn chặn được đối phương và bảo vệ được mình, nói cách khác là "đánh chuột nhưng không làm vỡ bình".

Trung Quốc với khả năng của hải quân (PLAN-People's Liberation Navy Army) với các căn cứ quân sự trên các đảo Trường Sa, Hoàng Sa thì có thể ngăn chặn được tuyến hàng hải qua Biển Đông đến Nhật Bản và Đông Bắc Á nếu một cuộc đối đầu với liên minh quân sự của Mỹ xảy ra.

Nhưng tất nhiên, khi đó đối phương cũng sẽ không ngồi nhìn mà sẽ phong tỏa eo biển Malacca. Lối vào Biển Đông bị bịt kín không phải bởi Trung Quốc mà bởi Mỹ-Singapore-Malaysia sẽ khiến Trung Quốc ngạt thở. Trong khi đó, hiện tại, Trung Quốc không có khả năng để khống chế eo biển Malacca theo phương thức "cấm đối phương nhưng không cấm ta".

Vì vậy, khi không làm chủ được eo biển Malacca thì Trung Quốc nếu có được quần đảo Trường Sa và những căn cứ quân sự trên đó chỉ có ý nghĩa về chủ quyền, mà vai trò quân sự của nó chưa khiến Mỹ và liên minh lo lắng, bất an như giới quân sự Mỹ đã phân tích.

Đương nhiên, Trung Quốc quyết tâm bất chấp tất cả, bỏ ra bao nhiêu tiền của, công sức, uy tín quốc tế bị lên án, để xâm phạm trái phép quần đảo Trường Sa, bồi lấp những đảo đã chiếm được của Việt Nam thành những căn cứ quân sự… không phải để phục vụ cho mục tiêu nhỏ, ngắn hạn như vậy trên Biển Đông. Trung Quốc xây dựng các căn cứ quân sự trên quần đảo Trường Sa để loại bỏ eo biển Malacca, không phụ thuộc vào nó.

Với hơn 85% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải đi qua eo biển Malacca, nếu như hoàn toàn phụ thuộc vào eo biển này, tức là vào Mỹ thì Trung Quốc sẽ hoàn toàn bị động về chiến lược, bị khống chế về an ninh năng lượng. Vì thế eo biển Malacca là "dãy đá ngầm" nguy hiểm nhất trên tuyến hàng hải sống còn của Trung Quốc nên phải tránh và trong thực tế Trung Quốc cũng đã "vòng tránh" bằng việc xây dựng đường ống dẫn dầu qua Myanmar nhưng chỉ đáp ứng là một phần rất nhỏ trong nền kinh tế, năng lượng mà Trung Quốc cần.

…bằng kênh đào Kra

Vào trung tuần tháng 5/2015, Want China Times dẫn lại báo Hong Kong Oriental Daily cho biết, Trung Quốc và Thái Lan ký biên bản ghi nhớ xây dựng kênh đào Kra Isthmus, được mệnh danh là "kênh đào Panama Châu Á" ở miền nam Thái Lan, nhằm rút ngắn hải trình của tàu bè Trung Quốc từ Trung Đông về Quảng Châu.

Kênh đào Kra có hai chiều, sâu 25 m, dài 102 km, rộng 400 m, việc xây dựng sẽ hoàn tất trong 10 năm, với chi phí 28 tỷ USD. Biên bản này được ký kết tại một diễn đàn hợp tác nghiên cứu và đầu tư tổ chức ở Quảng Châu, thủ phủ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Lễ ký kết dù rõ ràng nhưng vẫn bị giới chức 2 nước bác bỏ.

Kênh đào Kra Isthmus không chỉ biến Thái Lan trở thành một trung tâm hàng hải khu vực có thể lấn át các cảng trung tâm dọc eo biển Malacca của Singapore và Malaysia. Nó còn có vai trò như một huyết mạch quan trọng trong Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc mà giờ đây là một phần trong kế hoạch "Một vành đai, một con đường" của nước này.

Kênh Kra Isthmus nối thẳng vịnh Thái Lan với Ấn Độ Dương, cho phép tàu thuyền không phải đi qua Eo biển Malacca cũng như trung tâm cảng Singapore, cho nên vấp phải nhiều nhạy cảm về địa chính trị khu vực. Chính vì thế sau đó vài ngày giới chức 2 nước Trung Quốc, Thái Lan đã bác bỏ tin này.

Một tháng sau đó, The Straits Times ngày 20/8/2015 thông tin, Việt Nam tuyên bố sẽ xây một cảng biển nước sâu trị giá 2,5 tỷ USD tại đảo Hòn Khoai, cách 17km ngoài khơi bờ biển Cà Mau-tỉnh cực nam của Việt Nam. Dự án đã được Thủ tướng thông qua.

Dự án kinh đào trên bán đảo Kra

Dự án được thực hiện bởi Tập đoàn Bechtel-công ty kiến trúc và xây dựng lớn nhất Hoa Kỳ, trong một thỏa thuận ký với doanh nghiệp Việt Nam là Vân Phong. Thiết kế này bao gồm 12 cầu cảng trong số đó thì một nửa dùng để nhập khẩu than.

Nếu dự án với Bachtel được thông qua thì cảng Hòn Khoai sẽ được tài trợ 85% vốn bởi Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (Ex-Im Bank). Ex-Im Bank là một cơ quan tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Mỹ.

Ý nghĩa địa kinh tế, địa chính trị của việc hình thành cảng Hòn Khoai ta sẽ bàn vào lúc khác, ở đây ta chỉ quan tâm đến vai trò quân sự của quần đảo Trường Sa khi kênh Kra Isthmus, nếu có, hoàn thành.

Đến lúc này, nhìn lên bản đồ Biển Đông chúng ta sẽ thấy rõ căn cứ quân sự không quân, hải quân trên quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền Việt Nam, sẽ cho phép Trung Quốc kiểm soát khu vực Tây Nam Biển Đông và vịnh Thái Lan. Không có các căn cứ quân sự của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa thì không bao giờ Trung Quốc dám đổ tiền của xây dựng kênh đào Kra Isthmus.

Như vậy, chắc chắn các bên sẽ phải có cách tiếp cận về an ninh hàng hải trên Biển Đông và trên hết, Luật biển, công ước quốc tế phải được các bên xem xét, tôn trọng.

Lê Ngọc Thống
ethongluan

Hai đòn hiểm của Mỹ buộc Trung Quốc “lùi” trên Biển Đông.



Việc Trung Quốc đang biến những bãi cạn trên quần đảo Trường Sa thành những căn cứ quân sự để chiếm Biển Đông khiến Mỹ không thể ngồi yên.

Một loạt hành động, biện pháp của Mỹ nhằm ngăn chặn hành động của Trung Quốc mà chúng ta đã được chứng kiến. Đó là, dùng máy bay, tàu chiến tuần tra để thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc (như việc đưa máy bay B-52 vào vùng nhận dạng phòng không mà Trung Quốc thiết lập trên vùng biển Hoa Đông); bật đèn xanh cho Nhật Bản được xây dựng quân đội mang tính tấn công và sẵn sàng tác chiến tại Biển Đông khi lợi ích quốc gia của Mỹ, Nhật Bản bị xâm hại; nước Úc cũng chính thức can thiệp quân sự vào Biển Đông cùng với một liên minh tuần tra Biển Đông của Indonesa, Malaysia và Singapo đang sẵn sàng. Điểm nhấn đặc biệt chú ý là Liên minh quân sự mạnh, trụ cột của Mỹ tại châu Á-TBD là Mỹ-Nhật Bản- Úc đã chính thức sẵn sàng can thiệp quân sự trực tiếp vào Biển Đông.

Các biện pháp và hành động của Mỹ và liên minh đối đầu với Trung Quốc do tính chất không thể thỏa hiệp, nên tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng và rất dễ xảy ra xung đột. Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục bồi lấp các đảo đá, bãi cạn xây dựng các căn cứ quân sự thì sự có mặt lực lượng quân sự của Mỹ-Nhật Bản-Úc sẽ xuất hiện dày đặc hơn, áp lực sẽ giáng xuống Trung Quốc lớn hơn.

Tuy nhiên, khi Mỹ chưa ra hết những quân bài trong tay mình thì còn quá sớm để trả lời câu hỏi liệu xung đột quân sự có xảy ra hay không. Và đây có thể là 2 “biện pháp hòa bình” của Mỹ trên Biển Đông theo kiểu Mỹ của Bộ trưởng QP, ông A. Carter đưa ra tại Shangri-la mới đây.

Bán vũ khí, máy bay săn ngầm cho Việt Nam.

Phải khẳng định rõ là Việt Nam không muốn làm nghiêm trọng thêm tình hình vốn đã căng thẳng trên Biển Đông, muốn giải quyết tranh chấp chủ quyền bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tuân thủ UNCLOS và luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam phải xây dựng một lực lượng Hải quân mạnh, hiện đại để bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh hải, biển đảo. Việc mua sắm máy bay, tàu ngầm, tên lửa đối hải…là chỉ tự vệ và chỉ hoạt động trong vùng trời, vùng biển Việt Nam, là nhu cầu tất yếu mà không nhằm gây thêm căng thẳng trên Biển Đông.

Việt Nam đã mua sắm vũ khí của Nga, của Tây Âu và giờ mua thêm vũ khí của Mỹ để đa dạng hóa vũ khí, lựa chọn những loại vũ khí tốt, phù hợp, phục vụ yêu cầu chiến thuật phòng thủ là chuyện bình thường. Vì thế, quốc gia nào phản ứng tiêu cực với năng lực, sức mạnh của Hải quân Việt Nam là vô lý, nếu như không có ý đồ xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Nếu Mỹ sẵn sàng bán máy bay săn ngầm hiện đại cho Việt Nam hoặc bất kỳ loại vũ khí nào khác mà Việt Nam cần thì Việt Nam cũng sẵn sàng mua.

Quan điểm của Mỹ, ngoài việc thu được tiền ra, Mỹ bán vũ khí cho Việt Nam nhằm mục đích là Việt Nam sẽ ngăn chặn được mưu đồ, hành động bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông và đây cũng chính là quan điểm nhận thức của Trung Quốc.

Tuy nhiên, quan điểm của Việt Nam là quan điểm dựa trên chiến lược phòng thủ, tự vệ mà đối tượng tác chiến là những ai xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Chẳng hạn, chống ngầm trong phòng thủ biển của Việt Nam là một nhiệm vụ sống còn, quyết định sự thành bại của hệ thống phòng thủ xa bờ (chống tiếp cận). Do đó, không mua máy bay chống ngầm của Mỹ thì Việt Nam mua của các nước khác loại tốt nhất có thể, ngoài lực lượng hiện có của Nga ra…để đa dạng hóa vũ khí, để tăng cường sức mạnh chống ngầm là không phải bàn cãi. Đương nhiên, khi có thêm P-3C Orion thì tàu ngầm đối phương sẽ “suy nghĩ 2 lần” khi xâm nhập vào vùng biển Việt Nam vì với tính năng kỹ, chiến thuật của nó, ngay cả khi P-3C Orion bay tuần tra trên bờ biển Việt Nam vẫn tạo ra sức răn đe lớn cho kẻ thù trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam.

Mỹ biết Việt Nam cần gì và Mỹ biết Trung Quốc sợ điều gì, Mỹ muốn Việt Nam được trang bị mạnh lên để ngăn chặn Trung Quốc…là ý đồ của Mỹ, là quyền nhận thức của Mỹ. Nhưng với Việt Nam, ai ủng hộ chủ quyền biển đảo Việt Nam là đối tác, là bạn, ai hỗ trợ, bán cho Việt Nam những loại vũ khí tối tân để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc mà không có bất cứ điều kiện gì, nằm trong khả năng tài chính, thì Việt Nam sẵn sàng tiếp nhận, mua, không băn khoăn với một tinh thần “Thà nuôi quân đội mình, còn không sẽ phải nuôi quân đội người khác”.

Bán vũ khí cho Đài Loan và…

Vào tháng 3/1979, thông qua “Luật quan hệ với Đài Loan”, Mỹ cam kết bảo vệ kinh tế, chế độ xã hội và an ninh cho Đài Loan. Trung Quốc đã “thử” cái cam kết này trong các lần “khủng hoảng eo biển Đài Loan” nhưng không thành công vì Mỹ tỏ ra hiếu chiến hơn hẳn. Đến nay, vấn đề Đài Loan vẫn là chủ đề nhạy cảm nhất, quan trọng nhất trong quan hệ Mỹ-Trung.

Mỗi khi Mỹ có ý đồ bán vũ khí cho Đài Loan là Trung Quốc nổi giận lôi đình, phản đối kịch liệt và không khó để nhận thức là khi đó Mỹ chơi “con bài Đài Loan” để buộc Trung Quốc phải thỏa hiệp một vấn đề gì đó. Chúng ta đã rõ khi năm 2010, Mỹ đe bán cho Đài Loan gói vũ khí 6,4 tỷ USD và gần đây nhất, ngày18/12/2014, Tổng thống Barack Obama đã đặt bút ký phê chuẩn “Dự luật chuyển giao tàu chiến hải quân”, mở đường cho việc bán 4 tàu khu trục nhỏ Mỹ không còn sử dụng cho Đài Loan khi trước đó, cả Thượng viện và Hạ viện Mỹ thông qua dự luật cho phép bán 4 tàu hộ vệ tên lửa lớp Oliver Hazard Perry cho Đài Loan đã khiên cho Trung Quốc rất tức giận.

Đúng thôi, vì Đài Loan là “lợi ích cốt lõi”, là lãnh thổ của Trung Quốc, bán vũ khí cho Đài Loan chẳng khác nào phủ nhận “một Trung Hoa”, “can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ Trung Quốc, làm tổn hại đến chủ quyền và lợi ích an ninh quốc gia”, khiến Trung Quốc không giãy lên như “đỉa phải vôi” mới là chuyện lạ.

Rõ ràng là việc bán vũ khí cho Đài Loan ra sao, như thế nào, thời điểm…là một đòn cực hiểm “2 trong 1” (chính trị và quân sự) của Mỹ giáng vào Trung Quốc.

Xét trong mối quan hệ song phương Trung-Mỹ, thì xử lý, hóa giải miếng đòn này vô cùng khó khăn nếu như không nói là bế tắc. Do đó, về lý thuyết, Mỹ có thể tạo ra một cuộc nội chiến tại Trung Quốc (Đại lục và Đài Loan). Tuy nhiên, xét trên mối quan hệ đa phương, chiến lược toàn cầu, thì không phải không có cách để hóa giải, Trung Quốc có thể “bán đứng” ai đó hay thỏa hiệp điều gì đó nhằm bảo vệ lợi ích an ninh cốt lõi, then chốt, của mình như đã từng khi chưa đủ thế lực để đối đầu tay đôi với Mỹ.

Như vậy có thể nói, trên Biển Đông sẽ có rất nhiều “biện pháp hòa bình” trước khi phải dùng biện pháp chiến tranh. Biện pháp hòa bình mà Mỹ sẽ sử dụng như trên sẽ đồng thời tạo thế lực cho Mỹ trước thềm một cuộc xung đột quân sự. Do đó, hãy còn quá sớm để nói tới một cuộc xung đột Trung-Mỹ xảy ra trên Biển Đông khi Mỹ chưa tung ra hết những “biện pháp hòa bình”. Mới đây nhất, khi Biển Đông nóng lên sục sục thì bà Thái Anh Văn, thủ lĩnh Đảng Dân tiến của Đài Loan thăm Mỹ 12 ngày kể từ ngày 29/5, Hoàn Cầu thời báo đang lo sợ trước tuyên bố của 2 cố vấn thân cận của bà Thái Anh Văn là Trương Húc Thành và Kha Thừa Hanh: “Đảng Dân tiến sau khi cầm quyền sẽ từ bỏ chủ trương tuyên bố có chủ quyền tại Biển Đông”.

Quả thật, nếu vậy thì không có gì xấu và nguy hiểm hơn với Trung Quốc. Đài Loan vẫn là một vấn đề hóc hiểm nhất, là tử huyệt của Trung Quốc mà Mỹ quá hiểu.

Liệu trên Biển Đông, Trung Quốc có “lùi” không khi không muốn Việt Nam, mà đặc biệt là Đài Loan được Mỹ vũ trang hùng cứ một phương?

Lê Ngọc Thống
Blog Lê Ngọc Thống

Trung Quốc có dấu hiệu sử dụng vũ khí !


“…Khi Trung Quốc rất tàn bạo và độc ác, lại cậy mạnh, nguy hiểm hơn là tự cho rằng mình mạnh thì không có điều gì mà Trung Quốc không làm, không ra tay. Cảnh giác đề phòng và sẵn sàng giáng trả là sự sống còn cho bất cứ lực lượng nào, quốc gia nào quan hệ với Trung Quốc…”

Tương tự vụ cướp đảo Gạc Ma, Trung Quốc muốn cướp được biển, đảo mà không có chiến tranh lớn để tránh sa lầy.

26 năm trước, ngày 14/3/1988, trên vùng biển thuộc Quần đảo Trường Sa của chúng ta, Hải quân Trung Quốc đã huy động hàng chục tàu chiến tấn công vào lực lượng Hải quân Việt Nam đang triển khai xây dựng công trình giữ đảo.

Lực lượng của Trung Quốc có 12 tàu chiến gồm : 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn.

Hải quân Việt Nam gồm 3 tàu vận tải HQ 604, HQ 605 và HQ 505 trang bị súng 12ly7 cùng 70 chiến sỹ công binh của trung đoàn công binh 83 và 4 tổ chiến đấu gồm 22 người của lữ 146.

Với lực lượng trên, Trung Quốc đã nổ súng, phóng tên lửa vào 3 con tàu này của Việt Nam để cướp đảo.

Khoảng một tháng sau vụ Trung Quốc cướp đảo Gạc Ma, hải quân Việt Nam đưa 35 chiến sĩ công binh và 7 chiến sĩ hải quân cùng vật liệu xây dựng lên đá Len Đao, xây nhà đánh dấu chủ quyền.

Lặp lại kịch bản Gạc Ma, trong ngày 16/3, Trung Quốc đưa 7 tàu chiến và nhiều xuồng nhỏ bao vây uy hiếp số quân Việt Nam trên đá. Tuy nhiên, lần này Việt Nam cho 7 máy bay chiến đấu từ đất liền bay ra hỗ trợ các chiến sĩ hải quân nên số tàu chiến của Trung Quốc phải bỏ đi, đụng độ không xảy ra, phía Việt Nam giữ được đảo đá và hoàn thành việc xây dựng nhà trên đá.

Vấn đề rút ra ở đây là sự độc ác, tàn bạo, dã man của Trung Quốc là bản chất vốn có của lính Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Để cướp đất, cướp đảo, cướp biển của người khác thì chúng có thể làm bất cứ điều gì ngoài quy ước, đạo lý. Đừng nghĩ rằng Trung Quốc sẽ không làm gì vì quy ước, ký kết, thỏa thuận, đạo lý…mà Trung Quốc sẽ làm tất cả khi họ có thể.

Cảnh sát Biển và Kiểm ngư Việt Nam cảnh giác cao độ

Cậy đông, cậy mạnh, "lấy thịt đè người" của Trung Quốc lại một lần nữa được bộc lộ rõ nét trong vụ giàn khoan Hải Dương 981. Đồng bào cả nước đang rất chăm chú theo dõi tình hình trên Biển Đông khi một lực lượng tàu bé nhỏ của Cảnh sát biển, Kiểm ngư Việt Nam phải đối đầu với một lực lượng lớn bao gồm cả tàu chiến của Trung Quốc quanh giàn khoan Hải Dương 981.

Trước việc giàn khoan Hải Dương đã lùi ra xa bờ biển Việt Nam, trước việc Trung Quốc đưa vấn đề giàn khoan ra Liên Hiệp quốc, trước việc Tờ "Thời báo Hoàn Cầu" do Đảng cộng sản Trung Quốc quản lý, ngày 10/6 đăng bài viết nhan đề "Trỗi dậy hòa bình không mâu thuẫn với sử dụng vũ lực, bảo vệ chủ quyền có thể nổ súng" của tác giả Trương Kiến Cương, chủ nhiệm Phòng nghiên cứu chiến lược chính trị biển, Đại học Hải dương Quảng Đông ; trước sự việc tình hình Ukraine và Irac căng thẳng, đặc biệt hôm nay đã xuất hiện tàu pháo của Trung Quốc giả dạng tàu Hải cảnh mang số hiệu 13 có trang bị 4 ụ pháo 72 ly áp sát tàu chấp pháp Việt Nam thì khả năng Trung Quốc nổ súng vào tàu Cảnh sát biển hay tàu KN của Việt Nam là rất khó lường.


Tàu chiến trang bị 4 pháo loại 72 ly giả dạng tàu Hải cảnh Trung Quốc đang hung hăng là rất nguy hiểm cho tàu chấp pháp Việt Nam. Hãy cảnh giác để đối phó

Đây là khả năng dùng "xung đột nhỏ, xung đột hạn chế" để tranh chấp chủ quyền của giới diều hâu Trung Quốc, là một âm mưu cực kỳ nguy hiểm.

Trung Quốc muốn "dùng xung đột hạn chế" để biến sự đã rồi, đồng thời, đe dọa Việt Nam làm cho Việt Nam sợ mà không dám đánh trả để đòi lại những gì chúng đã cướp vì sẽ gây ra "xung đột lớn". Như vậy có nghĩa là Trung Quốc muốn cướp được biển, đảo mà không có chiến tranh lớn để tránh sa lầy.

Tuy nhiên, bất kỳ "xung đột quân sự hạn chế" hay xung đột quân sự lớn, mở rộng mà Trung Quốc gây ra để xâm lược biển đảo của Việt Nam là do Trung Quốc toan tính, Việt Nam không cần quan tâm. Chỉ cần biết rằng Việt Nam sẽ đánh lại bằng tất cả sức mạnh, ý chí quyết tâm để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng.

Vì vậy, lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư Việt Nam phải cảnh giác và trước tiên phải tính đến phương án bảo vệ mình, đáp trả xứng đáng, quyết không để rơi vào tình thế như năm 1988 ở Trường Sa.

Trang bị vũ khí của tàu Cảnh sát biển là súng 25 ly trở xuống, nhưng Hải cảnh Trung Quốc (Cảnh sát biển) lại trang bị súng 72 ly là bất chấp luật quốc tế. Đối đầu với kẻ bất chấp, độc ác, tàn bạo, dã man như Trung Quốc thì chúng ta không thể chủ quan với tính mạng, tài sản của mình, phải chuẩn bị vũ khí hoặc những thứ tương xứng để đáp trả, thay vì "vận động xua đuổi" chuyển sang "vận động tác chiến" để đưa đối tượng vào trong tầm sử dụng hỏa lực dễ dàng khi chúng nổ súng trước.

Khi Trung Quốc rất tàn bạo và độc ác, lại cậy mạnh, nguy hiểm hơn là tự cho rằng mình mạnh thì không có điều gì mà Trung Quốc không làm, không ra tay. Cảnh giác đề phòng và sẵn sàng giáng trả là sự sống còn cho bất cứ lực lượng nào, quốc gia nào quan hệ với Trung Quốc.

Lê Ngọc Thống
baodatviet.vn

Việt Nam trước hình thái chiến tranh mới


"...Tình hình hiện nay Việt Nam khẳng định chắc chắn rằng nếu như có quốc gia nào đó xâm phạm vùng biển và hải đảo của mình thì quốc gia đó không ai khác ngoài Trung Quốc. Và đương nhiên đối tượng tác chiến của Việt Nam trong sự nghiệp giữ biển đảo không phải là Mỹ, Nhật Bản hoặc Nga mà phải là Trung Quốc..."

Bất kỳ một quốc gia nào nếu như muốn Tổ Quốc không bị bất ngờ thì phải biết được nguy cơ thách thức an ninh từ đâu đến? Lực lượng bao nhiêu? Đến bằng cách nào? Nhằm vào đâu? Và chuẩn bị để đón nó ra sao. Việt Nam cũng vậy thôi. Khi một láng giềng vốn hùng mạnh lại tăng cường lực lượng quân sự vượt khỏi giới hạn phòng thủ, không minh bạch, kèm theo thái độ nước lớn nghênh ngang, đe dọa dùng vũ lực; hành động ngang ngược, chèn ép bắt nạt… thì đó là vận hội hòa bình hay là nguy cơ chiến tranh? Dù không muốn thì Việt Nam cũng bắt buộc phải có ứng xử và hành xử với nguy cơ này.  Bài phân tích và nhận định của Lê Ngọc Thống – nguyên sỹ quan Hải quân Việt Nam.

Đối tượng và khu vực tác chiến

Từ xưa tới nay dân tộc Việt trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh. Lúc thì phải thực hiện chiến tranh giải phóng Tổ quốc; lúc thì thực hiện chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, tuy nhiên những cuộc chiến này chủ yếu xảy ra trên Lãnh thổ. Vùng biển, vùng trời thời đó con người cả 2 phía chưa đủ khả năng để nhận thức được vị trí, lợi ích của nó nên được bỏ qua. Ngày nay tình thế đã khác, khi mà lãnh thổ đã “rành rành định sẵn ở sách Trời” rồi thì Vùng biển và Hải đảo con người có đủ khả năng để làm chủ, khai thác nó thì dù có được bảo vệ bằng Công ước LHQ về biển, Luật biển Quốc tế năm 1982 thì nó vẫn trở thành mục tiêu quan tâm của những kẻ có dã tâm bành trướng





Việt Nam là một quốc gia có 3260km bờ biển với hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó có 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa (bị Trung Quốc đánh chiếm năm 1974) và Trường Sa. Theo Công ước của LHQ về biển và Luật biển năm 1982 thì Việt Nam có chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển với diện tích khoảng 1 triệu km2. Như vậy biển, đảo của Việt Nam thực sự là “Trời cho” và những kẻ có dã tâm bành trướng thì nhìn vô với ánh mắt thèm muốn, chờ cơ hội là hành động. Vấn đề đặt ra trước tình hình hiện nay là ta phải làm gì để “giữ lấy nó” như lời Bác Hồ dạy.

Quả thật, “Bảo vệ vững chắc vùng biển và hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc” mà Quân đội nói chung và Hải quân Việt Nam nói riêng gánh vác nghe có vẻ như là chức năng và nhiệm vụ thường xuyên muôn thuở của mình nhưng thực tế hết sức mới mẻ. Bởi lẽ để thực hiện tốt nhiệm vụ, nếu khi có kẻ xâm lược vùng biển và hải đảo thì quân QĐNDVN mà nòng cốt là HQNDVN phải tiến hành chiến tranh trên biển, nghĩa là có rất nhiều trận hải chiến sẽ xảy ra. Mà hải chiến thì Việt Nam quá ít kinh nghiệm. Từ xưa tới nay dù chỉ là quy mô nhỏ, lịch sử ghi nhận có 5 trận hải chiến mà cha ông thực hiện. Trận thứ nhất ở cửa biển Vân Đồn do ông tướng thủy quân được gọi là giỏi nhất Đại Việt thời bấy giờ-Trần Khánh Dư chỉ huy. Sử sách không ghi diễn biến cụ thể, chỉ biết là đối đầu với hơn 400 thuyền chiến của Ô Mã Nhi, “hải quân bờ” của Trần Khánh Dư đại bại. Trước khi tự trói chịu tội ông tướng nhà Trần phát hiện lẻo đẻo đằng sau có một đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ do không kịp theo đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi, vậy là gom góp “tàn quân” Trần Khánh Dư diệt gọn đoàn thuyền này. So với trận trước thì đây chỉ là trận thắng danh dự nhưng hậu quả thì vô cùng khủng khiếp với nhà Nguyên… Trận thứ hai là của hải quân của Chúa Nguyễn tiêu diệt 2 tàu chiến của Hà Lan xâm phạm lãnh hải. Trận thứ 3 là Hoàng Sa 1974 và 2 trận còn lại (mang hơi hướng của chiến tranh hiện đại một chút) là của HQNDVN gồm 3 tàu phóng lôi đánh đuổi tàu Maddox và trận ngày 19/4/1972 gồm 2 máy bay MIG21 hợp đồng tác chiến với 3 tàu phóng lôi đánh nhau với Hạm đội 7 Hải quân Mỹ gồm 01 tuần dương hạm, 02 khu trục hạm và 01 hộ tống hạm tại vùng biển Quảng Bình. Lần xung đột trên biển năm 1988 không tính vì HQNDVN lúc đó chỉ có tàu vận tải, không có tàu chiến tham gia.

Liệt kê ra những điều này để chúng ta biết rằng hải chiến chưa phải là sở trường của ta (và càng không phải là sở trường của Trung Quốc, với Nhật Bản thì họ đã, đang là cường quốc biển không ai có thể phủ nhận). Vì thế xây dựng thế trận, cách đánh, vũ khí trang bị … phải tích hợp với nhau và theo kiểu Việt Nam để giữ biển, giữ đảo đòi hỏi rất nhiều trí tuệ, rất nhiều công sức tiền của, tâm huyết của QĐNDVN và dân tộc Việt Nam.

Tình hình hiện nay Việt Nam khẳng định chắc chắn rằng nếu như có quốc gia nào đó xâm phạm vùng biển và hải đảo của mình thì quốc gia đó không ai khác ngoài Trung Quốc. Và đương nhiên đối tượng tác chiến của Việt Nam trong sự nghiệp giữ biển đảo không phải là Mỹ, Nhật Bản hoặc Nga mà phải là Trung Quốc.

Vậy giả sử khi Trung Quốc không còn đe dọa sử dụng vũ lực như đã từng đe dọa nhiều lần nữa mà dùng vũ lực thật thì mục tiêu họ cần đạt được là gì, không gian, khu vực tác chiến xảy ra ở đâu? Chẳng quá khó khi trả lời câu hỏi này. Rõ ràng đó là các sân bay bến cảng trên bờ; quần đảo Trường Sa và khu vực dầu khí. Nhưng lực lượng nào sẽ tham gia? Trung Quốc sẽ bung toàn lực hay chỉ sử dụng một hạm đội nào đó có tăng cường để gây chiến với Việt Nam?

Lật lại trang chiến tranh Việt Nam – Mỹ. Việt Nam thắng nhưng trên phương diện là làm cho Mỹ không leo thang chiến tranh; làm cho Mỹ phải rút quân về nước; làm cho chế độ mà Mỹ dựng lên sụp đổ để Việt Nam thống nhất. Thời điểm đó Mỹ có khả năng thực hiện một lúc 2 cuộc chiến tranh rưỡi và còn cả khối NATO nhưng Mỹ không thể tập trung toàn bộ lực lượng dù chỉ 1/4 sức mạnh bởi lợi ích ở Việt Nam của Mỹ không là gì so với lợi ích toàn cầu của Mỹ. Mỹ thất bại tại Việt Nam là sự thật, là do không hiểu Việt Nam nhưng cho rằng Mỹ yếu kém, hèn nhát, nhu nhược, thì chẳng khác nào “nghé không sợ cọp”. (Giá như hồi đó Việt Nam đối xử với Mỹ như Lê Lợi-Nguyễn Trãi đối xử với nhà Minh; như Nguyễn Huệ đối xử với nhà Thanh thì lịch sử ít nhất cũng không lùi lại 20 năm. Nhưng lịch sử thì không có “giá như”, đúng không?)

Trung Quốc thì khác Mỹ. Nếu như Mỹ không thể thì Trung Quốc là không dám đem hết toàn bộ lực lượng để “dạy cho Việt Nam một bài học” như họ từng nói. Bởi thứ nhất là: Ngay như Việt Nam năm 1975 mặc dù phải tung hết lực lượng vào miền Nam nhưng Tướng Giáp vẫn kiên quyết để lại Sư 308 – sư đoàn thiện chiến nhất của Việt Nam lúc bấy giờ làm nhiệm vụ “Cận vệ”. Dù đã có đủ cơ sở để khẳng định “có cho kẹo Mỹ cũng không can thiệp trở lại Viêt Nam” nhưng Tướng Giáp và Bộ Chính trị Đảng CSVN vẫn dự kiến tình huống xấu nhất xảy ra cho miền Bắc trước một thế lực khác ngay khi chưa lộ mặt. Huống chi ngày nay Trung Quốc không có bạn, thời gian gần đây lại đi gây thù chuốc oán thêm nên xung quanh chỉ có cựu thù, họ nhìn Trung Quốc với con mắt cảnh giác, họ tăng cường tiềm lực quân sự để sẵn sàng đối phó với Trung Quốc mà Trung Quốc lại đi “dốc hết túi cho một kênh bạc chưa đâu vào đâu” thì quả là mạo hiểm về chiến lược và ngu xuẩn về chiến thuật. Điều thứ hai là tình hình chính trị xã hội Trung Quốc rất bất ổn. Có lẽ đây là điều nguy hiểm nhất. Bởi không phải ai trong giới cầm quyền Bắc Kinh cũng muốn đánh Việt Nam và nếu dùng hết toàn bộ lực lượng hiện có tấn công (với giả thiết các nước láng giềng xung quanh là bạn và không có nguy cơ nào thách thức đến an ninh quốc gia từ bên ngoài) thì kết quả bắt buộc phải thắng nhưng thắng nhanh. Không thắng coi như tự sát, nhưng thắng không nhanh cũng gây nên thảm họa trong nước (nội bộ thì đấu đá hạ bệ nhau, bạo loạn, ly khai…) cũng coi như tự sát (hình như cư dân mạng của Trung Quốc cũng sợ chuyện này nên mới vạch ra kế hoạch nổi tiếng táo bạo 31 ngày thì phải).

Giá như giới quân sự Trung Quốc trả lời chắc chắn được câu hỏi có “thắng nhanh” hay không? Nhưng rất tiếc, câu trả lời là của phía Việt Nam.

Vậy là đã rõ, lực lượng mà HQNDVN phải đối mặt nếu như không nhầm thì là Hạm đội Nam Hải được tăng cường lực lượng không quân và tên lửa đạn đạo. Có thể nói lực lượng, trang bị vũ khí của Hạm đội này cũng áp đảo, vượt trội so với Hải quân Việt Nam chứ không phải là chuyện đùa. Đây là Hạm đội chủ lực mạnh nhất, hiện đại nhất của Trung Quốc và duy nhất trong 3 hạm đội của Trung Quốc được biên chế 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ. Điều này cũng chứng tỏ nhiệm vụ và đối tượng tác chiến của Hạm đội Nam Hải là ai rồi.

Một trang sử mới với một hình thái chiến tranh mới – chiến tranh trên biển trong sự nghiệp giữ gìn, bảo vệ Tổ quốc của chúng ta bắt đầu.

Nếu Mỹ tấn công Việt Nam với mục đích đạt được như Trung Quốc, theo kịch bản mà Mỹ từng sử dụng ở Irắc, Coxovo, Apganixtan thì Mỹ sẽ sử dụng đòn tấn công tên lửa, pháo hạm từ tàu ngầm, tàu nổi, cùng với máy bay cường kích tên lửa chiếm lĩnh bầu trời đồng loạt vào các vị trí sân bay, bến cảng, các trạm radar của Việt Nam. Mỹ có thể làm chủ cuộc tấn công nếu như Mỹ với hàng trăm máy bay trên tàu sân bay làm chủ được vùng trời. Đây cũng là ưu thế quyết định nhất của các trận hải chiến. Bởi vì lực lượng không quân hải quân là lực lượng nguy hiểm nhất để áp chế, khống chế hoặc tiêu diệt nhanh nhất lực lượng tàu nổi, lực lượng tên lửa bờ, sân bay, bến cảng. Và tất nhiên kết quả phụ thuộc lớn về việc không quân hải quân Việt Nam có giằng co được với đối phương trên vùng trời của vùng biển xảy ra tác chiến hay không. Nếu giằng co được thì có cơ hội phản công, nếu không thì chấp nhận trở về thời kỳ trước năm1975 thực hiện chiến tranh du kích.

Nếu Trung Quốc tấn công Việt Nam cũng có kịch bản tương tự Mỹ thôi nhưng ưu thế quyết định nhất của các trận hải chiến thì Việt Nam nắm giữ bởi lẽ không quân hải quân Trung Quốc chưa đủ cơ để vươn ra đến khu vực xảy ra tác chiến. Trung Quốc lại không có khả năng tấn công từ xa ngoài “tầm với” của đối phương như Mỹ, vì thế bắt buộc họ phải tiếp cận gần hơn, mà gần hơn thì nằm trong tầm hỏa lực của các lực lượng phòng thủ biển Việt Nam. Vì vậy dù lực lượng tàu ngầm, tàu nổi, tên lửa hiện đại của Trung Quốc không kém Mỹ là bao nhưng do không khống chế làm chủ vùng trời nên tạo điều kiện cho tàu ngầm, tàu mặt nước, không quân hải quân Việt Nam “nhở nhơ” tha hồ lựa chọn phương án đáp trả. (Có lẽ bây giờ ta mới hiểu vì sao Trung Quốc lại có mơ ước khát khao cháy bỏng là làm sao để có tàu sân bay đến thế. Họ đã có nó, tuy nhiên chờ đến lúc được như Mỹ bây giờ là một khoảng thời gian dài).

Lối đánh và NMD Made in Vietnam

Ngày nay, hoạt động tác chiến để giữ biển đảo của Viêt Nam hiện nay xảy ra trong một không gian rộng và sâu bao gồm trên không, trên biển, trong lòng biển và dưới đáy biển. Tương ứng với nó là các lực lượng không quân hải quân; tàu mặt nước; tàu ngầm; thủy lôi, mìn và lực lượng phòng thủ bờ biển.

Hải chiến ngày xưa thì các lực lượng này của hai bên thường tìm cách tiếp cận nhau, gặp nhau là bắn nhau như vãi đạn. Hải chiến hiện đại ngày nay thì khác, các lực lượng này hiếm khi đối mặt nhau mà chỉ tiêu diệt nhau khi khoảng cách còn rất xa. Vì thế kẻ nào nhìn xa hơn, vũ khí có tầm bắn xa hơn, độ chính xác cao hơn là kẻ đó thường chiếm ưu thế (nói là thường vì trong trận hải chiến tháng 10/1973 giữa hải quân Israel với Ai cập và sau đó là Syria thì tàu tên lửa của hải quân Ai Cập và Syria tầm bắn lớn hơn tàu tên lửa của Israel gấp 2,5 lần. Nhưng do chiến thuật và gây nhiễu tốt nên khi tàu tên lửa của Ai Cập và Syria tấn công ngoài tầm hỏa lực của tàu tên lửa Israel mà không trúng mục tiêu thì lập tức tàu tên lửa Israel vận động tiếp cận đến đúng tầm hỏa lực của mình phóng tên lửa diệt gọn) Tuy nhiên có một điều cần hiểu là khoảng cách còn rất xa đó là xa bao nhiêu? Đây là vấn đề tuyệt mật quân sự. Bạn có thể biết tàu này, máy bay kia trang bị vũ khí này nọ nhưng bạn không thể biết tầm bắn có hiệu quả của nó là bao nhiêu km ngoài người làm chủ phương tiện đó ra. Vì thế hải chiến, không chiến hiện đại vẫn phải có các hành động đợi cơ, phục kích, hoặc vận động tiếp cận mục tiêu làm sao có lợi nhất để phát huy hỏa lực của mình. Như vậy không có nghĩa những tàu chiến hiện đại nhất được trang bị hỏa lực phòng, chống đầy mình là miễn bị tiêu diệt, tấn công.

Từ kinh nghiệm chiến tranh với Mỹ, như trong trận hải chiến ngày 19/4/1972 Lực lượng Hạm đội 7 Mỹ mạnh như vậy, bầu trời, vùng biển Việt Nam bị khống chế, phong tỏa như thế mà hải quân và không quân Viêt Nam vẫn hợp đồng tập kích làm cho 4 tàu chiến hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ bị bất ngờ, rối loạn, lúng túng đối phó và bị dính đòn đau. Vì thế, để chống lại một lực lượng hải quân mạnh, hiện đại tầm cỡ như Trung Quốc, Mỹ thì nguyên tắc sống còn trong tấn công đối phương là cơ động nhanh, bí mật, tập kích bất ngờ với các đòn dồn dập, nhiều hướng, nhiều chiều, nhiều phương tiện hỏa lực vào một mục tiêu làm cho đối phương lùng túng, rối loạn dễ bị tiêu diệt hoặc bị thiệt hại nặng nề. Tình thế hôm nay Việt Nam càng thuận lợi, dễ dàng hơn rất nhiều lần so với thời đánh Mỹ, do đó nguyên tắc sống còn trong tấn công trên biển này càng phát huy uy lực. Các tàu, xuồng phóng lôi, tên lửa loại nhỏ tốc độ cao Việt Nam đang đóng hàng loạt có thể đợi cơ phục kích ở bất cứ nơi đâu trên cửa sông, luồng lệch và gần 3000 hòn đảo lớn nhỏ của bờ biển Việt Nam được sự hỗ trợ của không quân, lực lượng trên đất liền tùy theo tình hình tác chiến sẽ là một mối nguy hiểm cực lớn, tiềm tàng rất khó đối phó. Bất kỳ lực lượng tuần dương hạm, khu trục hạm nào dù hiện đại đến đâu mà “mon men” vào vùng biển và hải đảo của Việt Nam thì ngoài việc phải tập trung đối phó tương xứng với các máy bay, tàu chiến hiện đại của Việt Nam còn bị nguy cơ tiêu diệt rất cao bởi những con tàu “đặc nhiệm” này. Sự phối hợp bộ 3 giữa tàu tên lửa, phóng lôi loại nhỏ tốc độ cao và tàu ngầm với không quân phục kích hay tập kích có vẻ như trở thành loại hình tác chiến cơ bản, sở trường của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Hải chiến hiện đại với vũ khí công nghệ cao thì ngư lôi, tên lửa là hỏa lực chủ yếu mà bên này dùng để tiêu diệt bên kia và ngược lại, trong đó tên lửa là hỏa lực chính. Đến đây một bài toán hóc búa đặt ra là làm thế nào để cho tên lửa, ngư lôi của ta phóng ra là trúng đích và làm gì để vô hiệu hóa hoặc ít ra là hạn chế tên lửa, mgư lôi của đối phương?

Việt Nam nghèo không có cơ sở vật chất kỹ thuật để bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa như Mỹ, điều đó không có nghĩa là chỉ biết trương mắt nhìn tên lửa bay vào lãnh thổ mà chịu. Để đánh chặn các đòn tấn công bằng tên lửa hành trình, đạn đạo, máy bay tàng hình tầm thấp của đối phương, Việt Nam phải xây dựng, bố trí các tổ hợp phòng không nhiều tầng nhiều lớp nghĩa là các vùng lưới lửa như thời chống Mỹ với các cỡ nòng từ 12ly7 trở lên ở những hướng mà tên lửa, máy bay có thể xuất hiện. Các vị trí quan sát bằng kỹ thuật ở bờ biển, hải đảo sẽ thông báo cho tổ hợp phòng không biết tên lửa bay theo hướng nào, độ cao bao nhiêu, thời gian bao lâu để đồng loạt khai hỏa. Máy bay tuy tốc độ thấp nhưng đường bay không cố định; tên lửa có tốc độ cao thì đường bay lại cố định. Thuận lợi và khó khăn khi đánh chặn 2 loại này như nhau nhưng cũng lưới lửa này Việt Nam đã từng tiêu diệt máy bay F111 cánh cụp cánh xòe tốc độ siêu thanh thì ngày nay mọi điều đều có thể. Ngoài ra Việt Nam cũng phải học cách rải nhiễu, gây nhiễu của B52 Mỹ trong chiến dịch Linebacker; tạo ra các khu vực nhiễu loạn điện từ để tên lửa bay qua vùng đó thì mất điều khiển tự nổ hoặc ít nhất cũng phải hạn chế tối đa độ chính xác của tên lửa đến mục tiêu…

Như vậy, căn cứ vào nội lực và động thái chuẩn bị của Việt Nam thì bất kỳ một quốc gia nào trừ Mỹ mở một cuộc chiến tranh trên biển với Việt Nam, chẳng hạn Trung Quốc đang coi Trường Sa của Việt Nam và 80% diện tích biển Đông là lợi ích cốt lõi thì điều đó (gây chiến tranh) có thể xảy ra thì nên bây giờ hoặc không bao giờ. Nhưng với nhãn quan của mình tôi cho rằng điều đó đã qua và ngay bây giờ cũng là quá khó. Không những Việt Nam đã mạnh lên rất nhiều mà tình hình khu vực đã thay đổi chóng mặt không có lợi cho Trung Quốc tý nào. Trung Quốc đã như hay bị coi như Liên Xô trước kia? Liệu một cuộc chiến tranh lạnh có xảy ra nữa không? Phản ứng của Trung Quốc nói lên điều gì? Chúng ta chờ xem.

Lê Ngọc Thống
(viet-studies)

Xung đột quân sự trên Biển Đông : Hãy định giá đúng !


"...Tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa, chỉ cần có đủ cơm, muối và nước uống là Việt Nam đánh giặc đến khi nào thắng thì thôi, mà những thứ đó Việt Nam bây giờ không thiếu. Còn Trung Quốc, tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa trên nền tảng một nội bộ bất ổn, lòng dân không thuận thì nước loạn chỉ là vấn đề thời gian..."

Nếu như có xung đột quân sự trên Biển Đông thì kẻ bị thảm họa không lường trước được chắc chắn không phải là Việt Nam.

Vài chục chiếc máy bay, tàu chiến Trung Quốc diễu võ dương oai xung quanh giàn khoan hạ đặt phi pháp trong thềm lục địa và EEZ của Việt Nam có vẻ như để sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự với Việt Nam, có vẻ như Biển Đông là "ao nhà" của Trung Quốc mà dựa vào Hạm đội Nam Hải đằng sau, họ có thể đưa giàn khoan HD 981 hay "hàng trăm giàn khoan vào Biển Đông" như tướng diều hâu La Viện hô hào, vào nơi nào họ muốn mà không phải trả giá.

Đừng đánh giá quá cao về con số như, 30 vạn quân, 60 vạn quân; trăm tàu tên lửa, khu trục, tàu ngầm vân vân. Những con số này không có ý nghĩa gì với Việt Nam, một dân tộc đã từng, đã quen "lấy ít địch nhiều" trên trận mạc.

Biển Đông không phải của riêng ai!

Trung Quốc và Nhật Bản đều có tuyến hàng hải trùng nhau, đồng thời tuyến hàng hải cũng là con đường quyết định sự sống còn của 2 nền kinh tế này, do đó cũng là sự sống còn của an ninh 2 quốc gia Trung, Nhật.

Chiếm hết Biển Đông để khống chế được tuyến hàng hải có nghĩa tham vọng này của Trung Quốc đã đụng chạm đến Nhật Bản, uy hiếp nhiều nhất đến an ninh Nhật Bản.

Senkaku với Nhật Bản không quan trọng bằng Biển Đông về lợi ích chiến lược. Nếu mất Biển Đông về tay Trung Quốc, Nhật Bản sẽ bị Trung Quốc ép mạnh ở Hoa Đông và đòn phong tỏa tuyến hàng hải trên Biển Đông của Trung Quốc sẽ khiến cho Nhật Bản rơi vào tình cảnh lựa chọn khắc nghiệt một mất một còn. Nhật Bản sẽ chọn Sekaku hay an toàn hàng hải trên Biển Đông ?

Vì vậy trên Biển Đông, Trung Quốc muốn chiếm trọn là điều không thể chấp nhận được đối với Nhật Bản. Biển Đông, trước tiên là nơi đụng độ, đối đầu chiến lược của 2 cường quốc khu vực là Nhật Bản và Trung Quốc mà đã, đang bắt đầu bằng một cuộc chiến địa chính trị quyết liệt trên khu vực ĐNA.

Nhìn vào các tuyến hàng hải sống còn của các quốc gia liên quan từ Trung Đông, Ấn Độ Dương qua Biển Đông đến Đông Bắc Á-TBD, chúng ta đều nhận thấy, nếu như có xung đột quân sự xảy ra trên Biển Đông thì tuyến hàng hải thương mại, năng lượng sẽ bị gián đoạn, cắt đứt là điều không tránh khỏi. Hai cường quốc khu vực châu Á-TBD là Trung Quốc và Nhật Bản có hai nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào tuyến hàng hải này sẽ bị điêu đứng đầu tiên.

Ngay với Australia, tưởng như miễn nhiễm với sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông nhưng hơn 2/3 hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu cũng đều phải qua tuyến hàng hải Biển Đông, trước việc Trung Quốc hung hăng hạ đặt giàn khoan trên vùng biển Việt Nam khiến nguy cơ xung đột quân sự xảy ra cũng đang vô cùng lo ngại và dư luận trong nước đang đòi phải chơi rắn với Trung Quốc… là đủ hiểu Biển Đông không phải của riêng ai.

Hãy tưởng tượng nếu một khi quốc gia nào đó khống chế được hoặc bị gián đoạn hay bị cắt đứt do xung đột quân sự thì cục diện kinh tế, chính trị khu vực Châu Á-TBD sẽ ra sao.

Vì thế, tự do, an toàn hàng hải trên Biển Đông luôn là vấn đề đặt ra cấp bách với mọi quốc gia liên can. Không những thế đây là vấn đề thuộc "lợi ích quốc gia" sống còn của các bên có tuyến hàng hải.

Xung đột quân sự trên Biển Đông nghĩa là…như thế nào?

Có lẽ trên báo Đất Việt, tên tuổi của Hưng Nhượng vương Trần Khánh Dư, viên tướng đánh thủy giỏi nhất dưới thời Trần Hưng Đạo đã hiện lên không ít lần. Đoàn thuyền chiến của Trần Khánh Dư trong trận đầu đối đầu với hơn 500 thuyền chiến của Ô Mã Nhi đã thất bại nhưng trận tiếp theo, lợi dụng đoàn thuyền chiến Ô Mã Nhi đang hăm hở tiến về Thăng Long, Trần Khánh Dư tập hợp lực lượng nhấn chìm toàn bộ đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ. Đây là đòn cực hiểm, một thắng lợi mang tầm chiến lược khiến quân Nguyên Mông phải rút chạy và chiến thắng Bạch Đằng đã lưu danh vào lịch sử.

Trên Biển Đông, "đoàn thuyền lương" hay dòng hàng hóa khổng lồ của Trung Quốc, Nhật Bản của Australia… luôn rất tấp nập trên tuyến hàng hải "cắt mặt Việt Nam" mà ngay Trung Quốc cũng coi như "đường sinh mạng" của mình.

Ngày nay một cuộc đối đầu giữa 2 quốc gia với nhau không chỉ đơn thuần là dùng các đòn quân sự mà dùng đòn kinh tế còn đánh sập đối phương nhanh hơn, hiệu quả hơn đòn quân sự rất nhiều. Cấm vận, trừng phạt, phong tỏa…đã làm cho không ít quốc gia điêu đứng, tan rã, mà ngay cường quốc quân sự như Nga hiện giờ cũng phải lo sợ. Người ta có thể trốn tránh được tên lửa, bom đạn nhưng khi bị đói rét, đói khát thì trốn, tránh nơi đâu cũng không thể thoát.

Hãy xem tuyến hàng hải của các tàu thương mại, vận chuyển năng lượng mà Trung Quốc cần phải bảo vệ an toàn (có viền đỏ bao quanh).

Với một tuyến hành lang dài và xa căn cứ như vậy thì về nguyên tắc Trung Quốc phải phân tán lực lượng để bảo vệ, đó là chưa nói đến nghệ thuật phân tán lực lượng địch của Việt Nam buộc Trung Quốc phải phân tán.

Nếu xung đột quân sự trên Biển Đông xảy ra, với nhãn quan quân sự của mình, tôi cho rằng Việt Nam không dại gì dốc hết lực lượng để đối đầu một trận với PLAN mà nhằm vào các tử huyệt của địch trên tuyến hàng hải để kéo căng lực lượng địch, tạo điều kiện cho ta thực hiện các đòn đánh khác…

Chỉ ngay vụ giàn khoan HD 981, đối đầu với tàu Kiểm Ngư và CSB Việt Nam mà Trung Quốc cứ tăng dần lực lượng từ 80 nay lên đến 134 tàu chiến máy bay thì liệu Trung Quốc có mấy chục Hạm đội Nam Hải để phủ kín Biển Đông?

Với tư tưởng tác chiến đó, thì Cam Ranh hay đúng ra là lực lượng hải quân, không quân tinh nhuệ hiện đại của Việt Nam tại căn cứ Cam Ranh sẽ như một thanh kiếm sắc lẹm cận kề trong gang tấc các tử huyệt của tuyến hàng hải quan trọng này.

Chúng ta không chủ quan, duy ý chí, để khẳng định thắng hay bại khi đối đầu với một lực lượng hải quân, không quân hùng hậu, hùng mạnh của đối phương, nhưng để cắt đứt hay làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ vận chuyển qua Biển Đông thì chắc chắn không khó với lực lượng hiện có tại Cam Ranh.

Bất kỳ tuyến hàng hải nào cũng đều buộc phải "qua mặt" Cam Ranh

Nếu như tại eo biển Malacca, Malaysia chỉ cần vài quả thủy lôi và pháo binh tầm xa là phong tỏa được yết hầu này thì với Cam Ranh, khó hơn một chút nhưng, chỉ cần một lực lượng máy bay tiêm kich bom, máy bay diệt hạm …xuất phát từ những sân bay gần như là sát với tuyến hàng hải là chúng đủ sức thực hiện nhiệm vụ.

Trung Quốc gây xung đột quân sự trên Biển Đông nếu chỉ đơn thuần là đánh chiếm mấy hòn đảo thì đó mới chỉ là khó khăn ban đầu và Trung Quốc muốn chiến cuộc hạn chế trong phạm vi đó thôi thì hộ đã đánh giá quá thấp ý chí, bản lĩnh của dân tộc Việt. Đừng hoang tưởng!

Tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa, chỉ cần có đủ cơm, muối và nước uống là Việt Nam đánh giặc đến khi nào thắng thì thôi, mà những thứ đó Việt Nam bây giờ không thiếu, không giống như thập kỷ 80. Còn Trung Quốc, tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa trên nền tảng một nội bộ bất ổn, lòng dân không thuận thì nước loạn chỉ là vấn đề thời gian.

Xung đột quân sự xảy ra trên Biển Đông là vậy đó. Đừng dại dột đem búa thử kính.

Lê Ngọc Thống
(Đất Việt)
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑