Tin Tức Cập Nhật 24/7

Tin Mới Nhất

HOT VIDEO CHANNEL - TV Bài nói về Biển Đông & TQ cực hay của Trung tương Phạm Văn Dỹ - Chính Ủy QK 7
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Lam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Lam. Hiển thị tất cả bài đăng

Viễn cảnh kinh tế Á Châu


Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ thao diễn trên biển Thái Bình dương


Tin liên quan:
» Xem tiếp
Sau khi Hiệp ước TPP vượt qua được một bước then chốt vào mùng năm vừa qua, tình hình kinh tế của các nước Đông Á sẽ biến chuyển ra sao? Câu hỏi đó dẫn chúng ta về hai đầu máy kinh tế trong vùng là Trung Quốc và Nhật Bản và về những bài toán an ninh đang đặt ra trong khu vực Đông Nam Á. Nguyên Lam yêu cầu chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa phân tích bối cảnh đó trong chương trình Diễn đàn Kinh tế tuần này.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, chúng ta còn non ba tháng nữa là sẽ hết năm 2015 đầy biến động kinh tế tài chính lẫn an ninh trên toàn cầu. Nếu việc Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái bình dương gọi tắt là TPP đã tiến được một bước then chốt sau năm năm đàm phán giữa 12 quốc gia trên vành cung Thái bình dương, người ta chưa thấy ngay kết quả vì từng nước còn phải vượt qua tiến trình phê chuẩn và tổ chức để áp dụng. Trong khi ấy, kinh tế Trung Quốc ngày càng có dấu hiệu trì trệ đáng ngại cho các nước khác trong khu vực. Vì vậy, kỳ này chúng tôi xin đề nghị ông trình bày cho bức tranh toàn cảnh của khu vực Đông Á trong những tháng cuối năm.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi theo dõi tình hình và nhất là trước sự quan tâm của thính giả, tôi xin đi vào vấn đề an ninh trước khi phân tích tình hình kinh tế.

- Trước hết, khi thăm viếng Hoa Kỳ tháng trước, Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố bên Tổng thống Barack Obama rằng Trung Quốc không muốn quân sự hóa biển Đông Nam Á. Sự thật không hẳn như vậy vì Bắc Kinh tiếp tục củng cố hệ thống quân sự trên các đảo nhân tạo họ xây dựng tại vùng quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp với các nước. Cũng vì vậy mà Hoa Kỳ bắn tiếng là sẽ điều động chiến hạm vào phạm vi 12 hải lý của các đảo nhân tạo này để khẳng định việc bảo vệ quyền tự do hàng hải của các nước. Thật ra chiến dịch mệnh danh “tự do hàng hải”, gọi tắt là “Fonop” mới chỉ được các giới chức Mỹ loan báo chứ chưa có cơ sở hay thời điểm rõ rệt bằng cuộc thao dượt hải quân mệnh danh là “Malabar” giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ trong khu vực Ấn Độ dương. Năm nay lại có thêm Nhật Bản với sự tham gia của hàng không mẫu hạn Theodore Roosevelt cùng một tiềm thủy đĩnh nguyên tử. Tôi thiển nghĩ rằng đấy là chỉ các tín hiệu thăm dò vì cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc và Nhật Bản đều đang có ưu tiên khác.

Nguyên Lam: Như vậy, ông cho là việc chiến hạm Hoa Kỳ xuất hiện tại vùng biển Đông Nam Á trong vài ngày hay vài tuần nữa như các giới chức quân sự Mỹ đã bắn tiếng chỉ là tín hiệu trắc nghiệm phản ứng mà thôi? Thế thì ưu tiên của Trung Quốc trong thời gian tới là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hôm Thứ Ba 13 vừa qua, chúng ta có thêm chỉ dấu từ Trung Quốc về nạn kinh tế sa sút qua thống kê suy sụp về xuất nhập khẩu trong Tháng Chín khiến các thị trường tài chính thế giới đều sụt giá. Như vậy, xu hướng đình đọng kinh tế của Trung Quốc ngày càng rõ hơn và dù Bắc Kinh có can thiệp vào các thị trường cổ phiếu hay ngoại hối thì cũng chỉ để hãm đà suy giảm chứ không thể đảo ngược nổi trào lưu này.

- Nói về ưu tiên thì trong Tháng 10 này lãnh đạo Bắc Kinh phải tổ chức Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ 5 của Khóa 18 để 205 Ủy viên Trung ương đảng hoàn tất văn kiện chỉ đạo cho Kế hoạch năm năm, từ 2016 đến 2020. Sau kỳ họp đó, ta sẽ thấy Bắc Kinh xác định thực tế suy trầm và đề ra nhiệm vụ phương hướng cải cách và quản lý kinh tế cho năm tới. Các nước nên theo dõi việc thảo luận, tranh luận hay chỉ tiêu tăng trưởng năm tới để thẩm định khả năng quản lý kinh tế của Bắc Kinh.

- Ngoài ra, cũng thuộc bối cảnh cần chú ý, lãnh đạo Trung Quốc còn phải tiến hành đợt kiểm tra thứ ba và sau cùng của chiến dịch diệt trừ tham nhũng và truy cứ trách nhiệm đảng viên cán bộ trong vụ sụt giá cổ phiếu lẫn các tai họa dồn dập tại Thiên Tân trong Tháng Tám vừa rồi. Cũng trong chiều hướng ấy, ta còn phải xét tới số phận của 26 doanh nhiệp nhà nước đã bị điều tra về tham nhũng để thẩm xét ý chí cải cách cơ chế và chuyển hướng kinh tế của lãnh đạo Trung Quốc.

Nguyên Lam: Như ông vừa trình bày thì từ nay đến cuối năm, ưu tiên của Bắc Kinh là giải quyết các bài toán kinh tế và chính trị nội bộ nên những biểu dương về sức mạnh quân sự họ trình bày trong Tháng Chín có khi chỉ là mặt nổi bên ngoài đế trấn an ở bên trong, có phải vậy không?
 
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ thế và không mấy lạc quan về khả năng ứng  phó của họ mà chờ đợi hàng loạt tin tức về thanh lọc hàng ngũ hoặc truy lùng các ngân hàng chui đã dính dấp vào việc tẩu tán tài sản ra ngoài. Ngoài một núi nợ xấu thì giải quyết các bài toán kinh tế tài chính ấy là công việc gần như toàn thời của các cơ quan hữu trách trong bộ máy đảng và nhà nước. Tôi e rằng Chủ tịch Tập Cận Bình đang gặp nhiều khó khăn hơn là bên ngoài có thể nghĩ.

Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015. AFP
Nguyên Lam: Bước qua nền kinh tế đứng hàng thứ ba của địa cầu là Nhật Bản thì ông thấy tình hình ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chính quyền của Thủ tướng Shinzo Abe đã lấy rủi ro lớn khi tiến hành việc bình thường hóa vai trò quân sự của Nhật qua một khóa họp kéo dài của Hạ viện và tung ra một kế hoạch cải cách mới. Uy tín của Chính quyền có sa sút nên ông Abe vừa phải cải tổ Nội các và trong mấy tháng tới sẽ ra sức kích thích kinh tế. Với lạm phát không tăng, xuất khẩu sút giảm trong tình trạng trì trệ chung của khu vực Đông Á, kể cả Trung Quốc, Nhật Bản sẽ còn bơm tiền và có khi chấp nhận tình trạng ngược ngạo là tài trợ với lãi suất âm. Có thể là vào một kỳ sau chúng ta sẽ tìm hiểu sâu xa hơn về kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh của việc áp dụng Hiệp ước TPP.

Nguyên Lam: Thưa ông, giữa hai cường quốc kinh tế đều có vấn đề nan giải trong nội bộ thì các quốc gia Đông Nam Á sẽ xoay trở thế nào?
 
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là chúng ta cần chú ý đến ba chuyện trước mắt. Thứ nhất là tình trạng sa sút kinh tế của Trung Quốc sẽ còn gây nhiều biến động cho các nước lân bang, nhất là khiến hối suất hay tỷ giá đồng bạc càng giảm so với đồng Mỹ kim. Thứ hai, nạn sụt giá nguyên nhiên vật liệu, kể cả xăng dầu, tiếp tục gây khó khăn cho các nước xuất khẩu thương phẩm. Thứ ba là Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ sẽ phải nâng lãi suất, dù rất nhẹ và nhiều phần là vào tháng cuối năm khiến các nước Đông Nam Á càng thêm kẹt vì khung cảnh quốc tế.

- Trong ngắn hạn thì như vậy, nếu nhìn ra một viễn ảnh xa hơn thì ta không quên là từ năm 1997 rồi từ Thượng đỉnh tại Bali của Indonesia vào năm 2003, Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN đã đề xuất sáng kiến hội nhập kinh tế vào một khối thống nhất. Đó là Cộng đồng Kinh tế ASEAN, viết tắt là AEC. Tiêu chí của kế hoạch lớn lao này là thành lập một thị trường chung cho toàn khối vào năm 2020. Nhưng đến Thượng đỉnh của khối ASEAN vào cuối năm 2007, các nước quyết định hoàn thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN sớm hơn hạn định, không phải là năm 2020 mà vào cuối năm 2015, ngày 31 Tháng 12 tới đây. Ngay trước mắt thì kỳ hạn ấy là một dịp cho các nước kịp thời thực thi việc hội nhập về cả kinh tế lẫn xây dựng hạ tầng cơ sở với nhau hầu tránh được những hiệu ứng bất lợi đến từ Trung Quốc hay Nhật Bản.

Nguyên Lam: Tức là trong khi dư luận quốc tế xôn xao và chú ý đến Hiệp ước Xuyên Thái bình dương TPP thì 10 nước của Hiệp hội ASEAN đã có một kế hoạch hội nhập từ trước rồi và đến cuối năm nay thì coi như phải hoàn tất. Thưa ông, đặc tính của việc hội nhập ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ 12 năm trước, Hiệp hội ASEAN muốn lập ra một thị trường chung cho toàn khối, từ sản xuất đến buôn bán với nhau, trong mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh và phát triển công bằng của cả khu vực và hội nhập khu vực này vào nền kinh tế toàn cầu. Muốn tiến tới một thị trường có bốn đặc tính ấy, các nước đã vạch ra lộ trình hợp tác như phát triển nhân dụng, tiêu chuẩn hóa khả năng chuyên môn của nguồn nhân lực và thường xuyên tham khảo ý kiến chung về chính sách kinh tế, tài chính và về các biện pháp tài trợ xuất nhập khẩu, v.v…

- Ngoài ra, trước khi Bắc Kinh quảng cáo cho “Con Đường Tơ Lụa” hay tung sáng kiến và bạc tiền về “Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á châu”, gọi tắt là AIIB, thì thật ra Hiệp hội ASEAN đã đề xướng việc nối kết mạng lưới hạ tầng cơ sở vật chất lẫn điện tử giữa các nước, tạo nền móng cho việc giao dịch và lập ra chuỗi cung ứng trên không gian mạng, kêu gọi sự tham gia của tư doanh, v.v….

- Người ta quá chú ý đến ảnh hưởng của Trung Quốc mà quên rằng các nước ASEAN đã tiến hành những việc cụ thể ấy trong thực tế với nhịp độ khá nhanh. Vì vậy mà họ mới đặt kỳ hạn hoàn thành sớm hơn. Tôi nghĩ rằng trong khi chuẩn bị điều kiện hội nhập vào khu vực TPP sẽ chỉ có trong thực tế của vài năm tới, Việt Nam nên cho quốc dân và doanh nghiệp biết rõ hơn về sự xuất hiện của Cộng đồng Kinh tế ASEAN trong vài tháng tới, trước khi ASEAN chính thức công bố vào ngày 31 Tháng 12 này. Đấy cũng là một bước không nhỏ cho nỗ lực “Thoát Tầu” và khai thác cơ hội mới của một kỷ nguyên mà kinh tế Trung Quốc hết còn là hãng xưởng toàn cầu như trong mấy chục năm qua. Việc hội nhập kinh tế ASEAN còn là mối lợi an ninh chiến lược khi Bắc Kinh đang uy hiếp nhiều nước trong khu vực.

Nguyên Lam: Khi chúng ta tạm tổng kết về tình hình kinh tế trong mấy tháng cuối năm thì Nguyên Lam thấy viễn ảnh ngắn hạn có thể là sự sa sút hay suy trầm xuất phát từ Trung Quốc. Nhưng nếu nhìn xa hơn chân trời ngắn hạn của một năm thì các nước Đông Nam Á và riêng Việt Nam cũng có nhiều triển vọng khả quan và rộng lớn hơn cho lâu dài. Thưa ông có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ như vậy và cho là Việt Nam đang có một bước hội nhập chặt chẽ hơn vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN dù sao cũng đã quen thuộc và gắn bó. Từ bước hội nhập đó như một cuộc thao dượt, Việt Nam có thể mở ra một khung cảnh hợp tác rộng lớn và đa diện hơn, đó là Khu vực TPP. Muốn như vậy thì nên rà soát lại xem các xứ khác chuẩn bị và tổ chức ra sao để gia tăng khả năng cạnh tranh bằng năng suất cao chứ không bằng lương thấp.

- Khi hội nhập vào kinh tế ASEAN rồi cả khối TPP có 800 triệu dân, Việt Nam có thể trui rèn khả năng cạnh tranh và còn tìm ra nhiều nguồn cung ứng khác về đầu tư, kỹ thuật và nguyên vật liệu để khỏi lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc rồi bị Bắc Kinh uy hiếp về an ninh. Người dân Việt Nam phải được biết rõ hơn về những ngả đường mới và sẽ tự chuẩn bị cho mình cơ hội tranh thủ những mục tiêu cao xa hơn. Hãy nhớ đến kinh nghiệm của Hàn Quốc và Đài Loan tại Đông Bắc Á để khỏi làm một nước chậm tiến trong khối ASEAN hay là một quận huyện vệ tinh của Bắc Kinh.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi hôm nay.

Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa
Theo RFA

Trung Quốc Mạnh Hay Yếu?


Một vài du khách Trung Quốc đứng dọc theo lối đi dạo trên Bến Thượng Hải nhìn ra sông Hoàng Phố nhìn sang khu Phố Đông ở Thượng Hải vào tháng 12 năm 2014.


Khi theo dõi tình hình Trung Quốc, người ta thấy một nghịch lý. Từ vài năm nay, giới kinh tế bắt đầu nói đến nỗi khó khăn của lãnh đạo kinh tế Trung Quốc sau giai đoạn tăng trưởng huy hoàng là bình quân 9% một năm trong 34 năm liên tục và nay đến lúc phải cải cách để khỏi rơi vào cái bẫy xập của một nước có lợi tức trung bình. Nhưng ngược lại, nhiều nhà nghiên cứu về chiến lược thì nêu vấn đề về sức bành trướng cả thương mại lẫn quân sự của Bắc Kinh khiến các lân bang đều lo ngại. Như vậy thì Trung Quốc mạnh hay yếu? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện này qua phần trao đổi của Nguyên Lam với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa....

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, dường như “Con Đường Tơ Lụa Mới” và “Bạch Thư Quốc Phòng” của Bắc Kinh là hai mặt trái ngược của Trung Quốc. Một đằng là hứa hẹn hợp tác toàn cầu, từ Á Châu sang Trung Đông, Âu Châu, Phi Châu qua các dự án xây dựng hạ tầng được các ngân hàng của Bắc Kinh tài trợ. Đằng kia là hành vi bành trướng trên nhiều khu vực có tranh chấp về chủ quyền, lại được bảo vệ bằng sức mạnh quân sự chưa từng có của Trung Quốc. Thuần về kinh tế cũng vậy, giới chuyên gia nói đến khó khăn của lãnh đạo Bắc Kinh sau một giai đoạn tăng trưởng ngoạn mục và nay chất lên một núi nợ có thể sụp đổ, vậy mà từ vài năm nay một số học giả về chiến lược lại nói về mối nguy xuất phát từ Trung Quốc cho an ninh của nhiều nước lân bang tại Đông Á. Nếu như vậy, thưa ông, Trung Quốc mạnh hay yếu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng để có giải đáp cho câu hỏi ấy ta cần nhớ đến quy luật là mọi mô thức kinh tế đều chỉ có hy vọng dự báo chính xác nếu có sự đóng góp của bộ môn “kinh tế sử”. Thiếu tầm nhìn về lịch sử thì các phương trình kinh tế đều chỉ có giá trị hạn chế.

- Về Trung Quốc thì sau gần 200 năm loạn lạc vì ngoại xâm lẫn nội chiến, một xã hội hơn một tỷ dân đã có ba chục năm yên lành để làm ăn kể từ 1979, thì kinh tế Trung Quốc tất nhiên có một đà tăng trưởng cao chưa từng thấy. Nhiều quốc gia khác cũng từng có cơ hội tương tự mà với dân số thấp hơn nên ít được thiên hạ chú ý. Trong ba thập niên đó, vụ thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn cách nay 26 năm vào ngày bốn Tháng Sáu năm 1989, khởi đi từ phong trào quần chúng phản đối nạn lạm phát và tham nhũng đã bị thế giới lãng quên nhưng vẫn hằn in trong tư duy của lãnh đạo xứ này. Họ rất sợ nguy cơ động loạn và dù biết là sau mấy chục năm tăng trưởng thiếu phẩm chất, họ phải cải cách để chuyển hướng qua một hình thái tăng trưởng khác nhưng vẫn rất thận trọng. Đấy là một đặc tính người ta nên nhớ khi luận bàn về sự mạnh yếu của Trung Quốc.

  Khi đầu tư nhiều để nâng sản lượng cho một thị trường nội địa không được tiêu thụ như ý thì nhà nước đẩy mạnh xuất cảng và độc quyền thu về ngoại tệ nên có khối dự trữ mấp mé bốn ngàn tỷ đô la để có thể bành trướng ảnh hưởng với thiên hạ

Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Ông nêu ra vài ba vấn đề về thời gian lẫn không gian để nhắc đến mô hình kinh tế Trung Quốc trong đó yếu tố chính trị lại giữ ví trí then chốt, tại sao vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh không phát minh ra điều gì mới, nhưng họ có trí nhớ. Từ kinh nghiệm Đông Á của các nước như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan và cả Singapore, mô hình Trung Quốc có đặc tính riêng là hệ thống chính trị giữ vị trí điều tiết thị trường. Nhà nước dùng quy luật tư bản để củng cố sức mạnh của nhà nước, dưới sự lãnh đạo của một đảng độc quyền.

- Thuần về kinh tế và nhờ định hướng chính trị ấy, tăng trưởng của Trung Quốc xuất phát từ hai lực đẩy là tăng đầu tư và giảm tiêu thụ. Nhà nước giữ vai trò thắt lưng buộc bụng, nhưng thắt ai và buộc ai là quyết định của lãnh đạo. Khi đầu tư nhiều để nâng sản lượng cho một thị trường nội địa không được tiêu thụ như ý thì nhà nước đẩy mạnh xuất cảng và độc quyền thu về ngoại tệ nên có khối dự trữ mấp mé bốn ngàn tỷ đô la để có thể bành trướng ảnh hưởng với thiên hạ.

Trong một cửa hàng điện tử ở Quảng Đông, Trung Quốc
- Thế giới cứ ngợi ca “phép lạ kinh tế” Trung Quốc mà ít thấy khái niệm "tăng đầu tư" và "giảm tiêu thụ" có nghĩa là nhà nước trưng thu tiết kiệm rất nhiều và rẻ của dân để đưa vào sản xuất. Nếu Tần Thủy Hoàng Đế mà có truyền thông quốc tế ở chung quanh thì Vạn Lý Trường Thành ở miền Bắc hay kinh đào Linh Cư tại miền Nam cũng được coi là sự kỳ diệu vì giải quyết được nạn thất nghiệp cho một dân số qúa đông! Người ta thấy ra cái "được" mà khó đếm được cái "mất" - như ô nhiễm môi sinh, tham nhũng hay bất công xã hội, là các vấn đề đang ám ảnh lãnh đạo xứ này.

Nguyên Lam: Thưa ông, khi nhắc đến yếu tố lịch sử gần xa thì ta có thể nhớ tới biến cố 2008-2009 rất gần đây là khi kinh tế thế giới bị suy trầm, xuất cảng của Trung Quốc sút giảm thì Bắc Kinh bơm tiền kích thích để vẫn duy trì đà sản xuất cũ. Việc bơm tiền qua ngả tín dụng, chủ yếu là qua hệ thống ngân hàng của nhà nước, đã đẩy kinh tế vượt qua Nhật Bản năm 2010, do đó người ta mới có ấn tượng rằng Trung Quốc rất mạnh về kinh tế, nhưng phải chăng mặt trái cùa sức mạnh ấy là một núi nợ được ước lượng vào khoảng 282% của Tổng sản lượng xứ này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta đều có thể hiểu thiên hạ vay tiền để đầu tư, khi thấy đầu tư có lời cao thì vay thêm để đầu cơ, là kiếm lời lớn hơn trong ngắn hạn nhưng với rủi ro cao hơn. Khi dàn máy bơm tiền lại thuộc về nhà nước, do tay chân nhà nước điều tiết theo diện chính sách mà bất chấp quy luật thị trường thì đằng sau nạn đầu cơ chỉ là "lạm dụng tín dụng". Tức là tay chân nhà nước và thân tộc mở canh bạc theo kiểu tháp ảo làm kinh tế bốc như trái bóng bay, hay bọt xà bông. Ngày nay, nạn đầu cơ địa ốc thổi giá đất đai của nhiều tỉnh thành Trung Quốc chả khác gì Nhật Bản trước khi Nhật bị bể bóng năm 1990 và trôi vào hai chục năm suy trầm. Ở bên dưới trái bóng Trung Quốc là bộ máy sản xuất dư dôi ế ẩm, chưa sử dụng hết 60% công xuất, nằm bên núi nợ xấu sẽ sụp khi bóng bể. Lãnh đạo Bắc Kinh có hiểu ra mối nguy ấy nên muốn tránh và tìm cách dồn sức đầu tư ra ngoài. Các dự án họ trù tính thực hiện ở nơi khác nằm trong chiều hướng phân mỏng rủi ro mà gia tăng thế lực trong khi vẫn muốn nắm dao đằng chuôi.

  Hệ thống tài chánh ngân hàng TQ có nhiều lệch lạc tích lũy từ lâu, kết tụ thành mạng lưới chằng chịt ở mọi cấp hành chính, từ trung ương tới từng địa phương, với thế lực rất lớn của các đảng viên. Những mắc mứu về quyền lợi, trong đó nạn nhũng lạm, tức là tham nhũng và lạm dụng, không chỉ cản trở mà còn phá hoại

Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Có lẽ hiểu ra mối nguy ấy nên thế hệ thứ năm lên lãnh đạo sau Đại hội 18 vào cuối năm 2012 quyết định chuyển hướng. Một năm sau, Tháng 11 năm 2013, Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ ba của khóa 18 đề ra phương hướng cải cách và chấp nhận một đà tăng trưởng thấp hơn. Thay vì 9-10% thì quãng 7,5% cũng là được. Có thể là Bắc Kinh biết rằng phải giảm tốc độ cho cỗ xe khỏi lật khi vào khúc quanh. Nhưng vì sao mà ngày nay họ vẫn đề ra chỉ tiêu tăng trưởng là hơn 7% một năm trong khi giới quan sát kinh tế hay các định chế tài chính quốc tế đều cho rằng Trung Quốc khó đạt mức tăng trưởng như vậy và nếu không khéo thì kinh tế sẽ hạ cánh nặng nề chứ không nhẹ nhàng như lãnh đạo Bắc Kinh mong muốn?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Bắc Kinh tính cải cách với ý thức cao về chính trị và có chuẩn bị về tổ chức. Nhưng sau 30 năm thì phép lạ kinh tế cũng sinh ra nhiều bệnh lạ. Hệ thống tài chánh ngân hàng Trung Quốc có nhiều lệch lạc tích lũy từ lâu, kết tụ thành mạng lưới chằng chịt ở mọi cấp hành chính, từ trung ương tới từng địa phương, với thế lực rất lớn của các đảng viên. Những mắc mứu về quyền lợi, trong đó nạn nhũng lạm, tức là tham nhũng và lạm dụng, không chỉ cản trở mà còn phá hoại chỉ thị của trung ương. Việc bơm tiền hay phân phối tài nguyên qua nhiều ngả mờ ám như ngân hàng chui vẫn tiếp tục chất lên một núi nợ mà chúng ta trình bày trong một kỳ trước. Vì vậy, lãnh đạo xứ này phải tập trung lại quyền lực về trung ương qua chiến dịch diệt trừ tham nhũng và vận động hậu thuẫn của quần chúng lẫn quân đội bằng những động thái mang tính chất bành trướng đối với các nước lân bang.

  Vì chưa thể cải cách được, lãnh đạo Bắc Kinh phô diễn sức mạnh quân sự với bên ngoài và nghĩ là vì các nước e ngại rủi ro đụng độ nên sẽ nhượng bộ yêu sách của họ

Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Theo cách đánh giá của ông thì phải chăng việc Bắc Kinh xây đảo nhân tạo tại vùng biển Đông Nam Á và công bố Sách Trắng về Quốc Phòng cũng còn có chủ đích trấn an hay tranh thủ dư luận ở ngay bên trong Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi lãnh đạo Bắc Kinh nói đến yêu cầu chuyển hướng quân sự theo tinh thần gọi là “chủ động phòng thủ” thì khái niệm phòng thủ đó bao trùm lên chính trường nội địa! Khi các quốc gia khác báo động về mối nguy của Trung Quốc thì Bắc Kinh càng yên tâm rằng thần dân bên trong thêm hãnh diện về thế lực của quốc gia trên trường quốc tế mà bớt phàn nàn về chuyện kinh tế. Ngày nay, lãnh đạo Bắc Kinh lấy nhiều rủi ro về đối ngoại và gây vấn đề cho lân bang khiến các đề nghị hợp tác và xây dựng của họ trong kế hoạch Con Đường Tơ Lụa, họ gọi là “Nhất Đai Nhất Lộ” lại mất dần sự hấp dẫn về kinh tế khi cân nhắc với rủi ro về an ninh. Đấy cũng là khía cạnh khác về chuyện mạnh yếu của Trung Quốc khi ta đối chiếu với nỗ lực đầu tư và viện trợ tương tự của Nhật Bản tại Đông Á. Nhiều nước Đông Nam Á không sợ Nhật Bản mà e ngại Trung Quốc và đấy không là một thế mạnh của Bắc Kinh.

Nguyên Lam: Nếu tổng kết lại, thưa ông có phải Trung Quốc đang gặp nhiều vấn đề kinh tế ở bên trong mà lãnh đạo muốn khỏa lấp bằng kế hoạch quy mô với bên ngoài và vì vậy lại gây cảm giác bất an cho các nước?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng về kinh tế, lãnh đạo Bắc Kinh cần đạp thắng để đổi hướng, rồi sợ tăng trưởng giảm làm thất nghiệp tăng và bị động loạn nên lại ngầm bơm tiền kích thích qua nhiều kênh mà họ biết là thiếu an toàn. Năm ngoái, họ thử nghiệm biện pháp bơm tiền tinh tế hơn, không qua ngả tín dụng ngân hàng đầy rủi ro mà qua việc ngân hàng trung ương mua lại trái phiếu của một số khu vực nhất định, như công khố phiếu ở các địa phương miền Tây, miền Trung, hay trái phiếu hỏa xa, gia cư hay ngân hàng. Năm nay thì họ vừa cho phép đảo nợ tại một số tỉnh, tức là cũng thi hành biện pháp bất thường các nước Tây phương đã áp dụng, là "quantitative easing", là tăng mức lưu hoạt có định lượng. Đâm ra Trung Quốc chưa thể hãm đà tăng trưởng để tìm ra thế quân bình bền vững hơn, với tiêu thụ nội địa mới là lực đẩy.

- Vì chưa thể cải cách được, lãnh đạo Bắc Kinh phô diễn sức mạnh quân sự với bên ngoài và nghĩ là vì các nước e ngại rủi ro đụng độ nên sẽ nhượng bộ yêu sách của họ. Chúng ta có thể gọi đó là “Hội chứng Vương An Thạch” là khi Tể tướng nhà Tống là Vương An Thạch tiến hành việc cải cách mà thời đó gọi là “biến pháp”. Vì sự cưỡng chống của phe bảo thủ bên trong, họ Vương đi tìm thắng lợi quân sự ở bên ngoài qua quyết định tấn công Việt Nam vào năm 1075. Nào ngờ quân Tống đại bại dưới tay Thái úy Lý Thường Kiệt, Vương An Thạch mất chức và chuyện biến pháp cũng thành nước lã ra sông. Việt Nam ngày nay không được như đời Lý ngày xưa nhưng thế giới ngày nay không chỉ có Trung Quốc với Việt Nam - và rủi ro cho Trung Quốc là chuyện có thật vì họ chưa hùng mà đã đòi hung.

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phỏng vấn lý thú này.

Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa,
phóng viên RFA
Theo RFA

Ước Lượng Rủi Ro Ngoài Đông Hải


Hải quân Trung Quốc thao diễn trên biển Đông


Những biến cố dồn dập từ nhiều tháng qua trên vùng Thái Bình Dương đã khiến dư luận thế giới e ngại rủi ro đụng độ hoặc thậm chí xung đột trong khu vực. Nhìn từ giác độ kinh tế thì rủi ro ấy là những gì? Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về vấn đề này qua phần trao đổi sau đây của Nguyên Lam.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, tình trạng căng thẳng tại khu vực Đông Hải của Việt Nam đã gây quan tâm cho nhiều quốc gia vì nơi đây là tuyến hải lưu cho phân nửa lượng hàng hóa giao dịch trên toàn cầu. Khi Trung Quốc ráo riết cải tạo các cụm đá ngầm thành đảo với trang bị quân sự và tuần qua công bố Sách Trắng về Quốc Phòng, nhiều người lo rằng xứ này đang bành trướng ảnh hưởng từ vùng biển cận duyên ra tới các đại dương, đã đe dọa chủ quyền trên lãnh thổ và lãnh hải của các lân bang và có thể cản trở quyền tự do lưu thông của các nước. Nhìn từ giác độ kinh tế, ông đánh giá thế nào về các rủi ro đó trong khu vực?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin đề nghị là ta nên lùi lại mà nhìn vấn đề trên toàn cảnh và trong viễn ảnh nhiều năm, may ra thì thấy được những rủi ro cho các nước, và trước nhất là rủi ro cho nước tác quái là Trung Quốc.

- Việc Bắc Kinh bành trướng ảnh hưởng qua nhiều hành động cụ thể mà bất chấp dư luận quốc tế không chỉ xảy ra từ 18 tháng nay, khi họ đòi kiểm soát một khu vực còn rộng lớn hơn biển Địa Trung Hải và trùm lên lãnh hải của nhiều lân bang. Việc họ xác nhận tư thế đại cường hải dương qua tài liệu quốc phòng vừa công bố cũng không có gì là ngạc nhiên. Bắc Kinh chuẩn bị điều ấy từ lâu và nay mới công khai hóa. Nhưng cũng vì vậy mà họ lấy nhiều rủi ro chúng ta cần thấy.

Nguyên Lam: Thưa ông, vì sao ông lại khởi sự với rủi ro của Trung Quốc do động thái vừa qua?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì nếu Trung Quốc tính ra rủi ro cho mình thì họ sẽ thận trọng hơn và bớt gây rủi ro cho các các khác.

- Nói chung, lịch sử nhân loại cho thấy rằng khi một cường quốc bành trướng ảnh hưởng và trở thành một đế quốc thì họ cũng mất một thời gian dài. Trung Quốc thật ra mới chỉ là một đại cường cấp vùng đang ngoi lên trình độ ấy và cố vươn từ vị trí cường quốc lục địa ngày xưa lên vị trí cường quốc hải dương sau này. Lý do bành trướng là chưa khi nào kinh tế Trung Quốc lệ thuộc vào thế giới như vậy và ngày nay họ muốn dùng sức mạnh bảo vệ quyền lợi mà họ mơ ước sẽ là toàn cầu.

  Vì dầu khí, Bắc Kinh đã can thiệp vào Nam Sudan tại Châu Phi khi cung cấp võ khí cho chính quyền sở tại chống các nhóm phiến loạn. Hôm 22 vừa qua, họ phải di tản 400 nhân viên tại các giếng dầu của Nam Sudan. Nếu muốn bảo vệ quyền lợi tại đây, Bắc Kinh có thể gặp cảnh “khi vào húng hắng khi ra vội vàng

» Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Vì vậy, rủi ro đầu tiên là phải can thiệp vào thiên hạ sự chứ không thể duy trì chính sách “không xen lấn vào nội tình của xứ khác” như trước. Khi can thiệp như vậy thì Bắc Kinh phải chọn bạn mà cũng vì thế lại dễ gây thù, chứ không thể ung dung mua chuộc mọi xứ bằng tấm chi phiếu. Trung Quốc lấy rủi ro lớn khi xỏ chân vào đôi giày quá rộng của một siêu cường toàn cầu như Hoa Kỳ. Tức là sẽ liên can vào nhiều chuyện bất ngờ không thể tính trước, kể cả nạn kiều dân bị bắt làm con tin hay bị khủng bố chặt đầu như Hoa Kỳ hay Nhật Bản đã từng bị.

Nguyên Lam: Ông có thể nào nêu thí dụ cụ thể về rủi ro can dự mà Trung Quốc sẽ gặp hay chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta cứ chú ý vào tình hình Đông Hải nên quên là vì dầu khí, Bắc Kinh đã can thiệp vào Nam Sudan tại Châu Phi khi cung cấp võ khí cho chính quyền sở tại chống các nhóm phiến loạn. Hôm 22 vừa qua, họ phải di tản 400 nhân viên tại các giếng dầu của Nam Sudan. Nếu muốn bảo vệ quyền lợi tại đây, Bắc Kinh có thể gặp cảnh “khi vào húng hắng khi ra vội vàng”!

Hàng không mẫu hạm USS George Washington hoạt đông trên Thái Bình Dương
- Một thí dụ khác là tình hình vùng Vịnh Ba Tư với nội chiến tại Yemen, tranh chấp giữa hai nước có dầu là Iran với Á Rập Saudi, hoặc sự tung hoành của lực lượng khủng bố xưng danh Nhà nước Hồi giáo. Ngay hiện tại, Trung Quốc đã bị các tổ chức khủng bố Hồi giáo, từ al-Qaeda tới ISIL, quậy phá đất Tân Cương. Nếu can dự vào Trung Đông để bảo vệ nguồn năng lượng, Trung Quốc càng là đối tượng được các nhóm khủng bố tấn công trong lãnh thổ tại miền Tây và trên Con Đường Tơ Lụa mà họ đang muốn thực hiện. Vài năm nữa thôi, người ta sẽ thấy ra chuyện đó.

Nguyên Lam: Quả thật là ông nêu ra vài chuyện bất ngờ, nhưng ngay tại khu vực Thái Bình Dương, Trung Quốc còn gặp rủi ro nào khác chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Mọi cường quốc muốn thành Đế quốc, là giấc mơ ngày nay của lãnh đạo Bắc Kinh, đều gặp bài toán tôi xin gọi tắt là “tiếp liệu” cho đơn giản. Từ Trung Nguyên tại miền Đông, các Hoàng đế Trung Hoa mà muốn kiểm soát Tây Vực và khống chế Trung Á đều căng mỏng phương tiện nên khó tiếp vận, rồi trung ương còn bị nạn cát cứ ở vùng biên trấn. Mà thôn tính được vùng nào thì cũng nuốt vào bụng sự chống đối của các sắc tộc đã bị họ khuất phục. Đó là hiện tượng từng thấy ở nhiều nơi, tại nhiều xứ, kể cả Liên bang Xô viết hay Liên bang Nga.

  Hiện tại, Trung Quốc đã bị các tổ chức khủng bố Hồi giáo, từ al-Qaeda tới ISIL, quậy phá đất Tân Cương. Nếu can dự vào Trung Đông để bảo vệ nguồn năng lượng, Trung Quốc càng là đối tượng được các nhóm khủng bố tấn công trong lãnh thổ tại miền Tây và trên Con Đường Tơ Lụa

» Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Trở về Thái Bình Dương thi càng vươn ra biển xanh dương, Bắc Kinh càng kéo dài đường tiếp vận từ bên trong cho các đơn vị Không quân và Hải quân ở ngoài khơi và sẽ bị tốn kém rất cao. Nếu lại muốn lập ra hệ thống nhận diện phòng không ADIZ trên các vùng họ vừ chiếm đóng thì đụng vào hệ thống phòng không của xứ khác, thí dụ như Nhật Bản. Xứ Nhật có hệ thống nhận diện phòng không rất gần với lãnh thổ và căn cứ Nhật, vả lại dân Nhật không có đất lùi như dân Tầu nên chắc chắn là họ sẽ quyết liệt bảo vệ. Đấy là một rủi ro nữa.

- Cho nên, chẳng dàn ra thì thôi, nếu dàn trận tuyến mà không có khả năng bảo vệ thì lãnh đạo Bắc Kinh làm chính người dân của họ thất vọng vì dân Tầu cứ được tuyên truyền về sức mạnh của quốc gia. Thật ra, để bù vào khó khăn kinh tế, đảng Cộng sản khích động tinh thần dân tộc cho quần chúng thêm tự hào về chuyện ảo. Quần chúng và quân đội mà thất vọng vì khả năng chống trả có giới hạn thì đảng lâm nguy như nhà Mãn Thanh đã từng bị trước khi sụp đổ. Đây là ta chưa nói đến rủi ro ở nơi xa hơn, như tại Ấn Độ Dương, hay cả rủi ro với Hoa Kỳ.

Nguyên Lam: Hầu hết dư luận đều chú ý đến kịch bản đụng chạm về quyền lợi hay đụng độ võ trang vì tai nạn bất ngờ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Ông nghĩ sao về loại rủi ro đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì tưởng Hoa Kỳ đang phân vân do dự giữa hai ngả công thủ sau khi quá mệt mỏi với chiến tranh và bất ổn ở ngoài, lãnh đạo Bắc Kinh mới thừa cơ bành trướng quân sự và cho rằng ít bị rủi ro lâm chiến với Mỹ. Tôi thiển nghĩ là lý luận ấy có vẻ có cơ sở vì vài lý do.
- Thứ nhất, sau khi Chính quyền Barack Obama nói đến việc chuyển trục về Đông Á từ năm 2011, với tiêu chí là sẽ đưa 60% các chiến hạm của mình qua Thái Bình Dương từ nay đến năm 2020, thì ngay năm sau là 2012, Mỹ phải cắt ngân sách quốc phòng, kể cả số chiến hạm. Ngược lại, trong hai năm qua, Bắc Kinh đã hạ thủy nhiều chiến hạm nhất thế giới, với kết quả là tới năm 2020 Hoa Kỳ sẽ có 64 chiến hạn lẫn tầu ngầm trên biển Thái Bình, đối diện với tổng số của Trung Quốc là 248 đơn vị. Với tương quan lực lượng đó và nếu áp dụng chiến pháp gọi là “bất cân xứng” mà Bắc Kinh chủ trương thì họ nghĩ rằng tình hình không đến nỗi tệ cho mình. Tuy nhiên, chính là vì cân nhắc như vậy, Bắc Kinh càng lấy thêm nhiều rủi ro trong những năm tới.

- Trong khi đó, thực tế không là hỏa lực, số chiến hạm hay phương tiện võ trang của hai nước. Thực tế là thực lực kinh tế của hai quốc gia, với Hoa Kỳ vẫn giàu mạnh gấp bảy Trung Quốc nếu tính theo lợi tức bình quân một đầu người. Ngoài ra, về trình độ công nghệ và kinh nghiệm chiến trường thì Trung Quốc chẳng thể sánh được. Thứ nữa, thái độ khiêu khích của Bắc Kinh sẽ làm dân Mỹ xoay chuyển và muốn tìm lại vai trò tích cực hơn trong vài năm tới. Khi ấy ta chẳng nên quên rằng Mỹ đã từng tham chiến vì tinh thần chống lại chủ nghĩa thực dân đế quốc, là điều ăn khớp với động thái ngày nay của Trung Quốc. Sau cùng, Hoa Kỳ hiện có nhiều đồng minh hơn Trung Quốc mà Bắc Kinh càng hung hăng thì số đồng minh với Mỹ lại càng tăng. Đấy là một rủi ro có cấp số nhân vì nếu một đồng minh mà bị Tầu tấn công thì nhiều xứ khác sẽ có phản ứng.

Nguyên Lam: Thưa ông, nói về các đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực rộng lớn mà Bắc Kinh muốn bung ra thì ta  thấy có Nhật với nền kinh tế lớn thứ ba, Ấn Độ với nền kinh tế đứng thứ chín, Úc đứng hạng 12, Nam Hàn hạng thứ 13, tức là một vòng đai các quốc gia bán đảo hay quần đảo thuộc loại khá vững mạnh của địa cầu. Đấy có phải là một rủi ro khác cho Trung Quốc không?

  Dù có một chủ trương “lý tài” là chỉ giao du vì quyền lợi, Trung Quốc vẫn có thể bị lôi vào những tranh chấp hay chiến tranh của xứ khác, với hậu quả dây chuyền. Và nếu chiến tranh bùng nổ thì trận địa sẽ ở gần lãnh thổ Trung Quốc mà ở xa Hoa Kỳ

» Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng rủi ro lớn nhất chính là sự phân vân chần chờ ngày nay của Hoa Kỳ khiến Trung Quốc càng dễ phiêu lưu và làm các quốc gia kể trên sớm liên kết với nhau.
- Họ liên kết với nhau trong tinh thần tương nhượng để chia sẻ gánh nặng kinh tế cho yêu cầu an ninh và sẽ nhìn vào kế hoạch “Con Đường Tơ Lụa” trên đất liền và trên biển của Bắc Kinh với cách lượng giá đầy tính nghi ngờ về an ninh hơn kinh tế. Rồi theo truyền thống cố hữu, Mỹ chần chờ và sẽ lại liên kết với các xứ đó, chưa kể một số nước trong Hiệp hội ASEAN. Sự thật thì chính là các quốc gia nói trên của Á Châu mới bị Trung Quốc hăm dọa nên sẵn sàng hợp tác với Mỹ.

- Cụ thể thì người ta đã thấy Nhật vừa ký kết hiệp ước phòng thủ mở rộng với Mỹ theo chủ ý tích cực với vai trò quân sự quan trọng hơn của Nhật vì lý do là bênh vực các đồng minh bị tấn công. Mới đây, Thủ tướng Shinzo Abe cũng hứa hẹn gia tăng đầu tư và viện trợ của Nhật cho các nước Đông Nam Á để tìm lại ảnh hưởng kinh tế năm xưa ở trong vùng. Cho nên, vấn đề không thu hẹp vào sự ganh đua hoặc tranh chấp giữa Mỹ và Tầu mà sẽ có sự tham dự của nhiều quốc gia khác. Tôi thiển nghĩ rằng hóa ra chính lãnh đạo Bắc Kinh mới lập ra vòng đai phòng thủ của cả chục quốc gia nằm trên con đường bành trướng của Trung Quốc.

Nguyên Lam: Tổng kết lại, thưa ông, có phải là Trung Quốc cứ khẳng định quyền bành trướng của họ mà lại gặp nhiều rủi ro chứ không dễ gì tác động như Bắc Kinh đã trù tính ban đầu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra, Bắc Kinh có quyền lợi và tham vọng cao quá khả năng quân sự. Tại các vùng đất xa xôi mà họ muốn vươn tới cho mục tiêu kinh tế thì bộ máy quân sự chưa theo kịp các dự án kinh tế nên những chọn lựa bạn thù hoặc quyết định can thiệp vào xứ khác vì quyền lợi kinh tế sẽ khiến Trung Quốc dễ bị tấn công hơn xưa, chưa nói đến nạn hải tặc hay khủng bố.

- Thứ hai, dù có một chủ trương “lý tài” là chỉ giao du vì quyền lợi, Trung Quốc vẫn có thể bị lôi  vào những tranh chấp hay chiến tranh của xứ khác, với hậu quả dây chuyền. Và nếu chiến tranh bùng nổ thì trận địa sẽ ở gần lãnh thổ Trung Quốc mà ở xa Hoa Kỳ. Vì kinh tế Tầu bị lệ thuộc bên ngoài hơn là kinh tế Mỹ, tổn thất cho Trung Quốc sẽ rất cao và kết cuộc thì Hoa Kỳ còn mạnh hơn trước, như người ta đã thấy sau hai Thế chiến của thế kỷ 20. Nếu Trung Quốc lượng giá lại như vậy thì may ra họ sẽ bớt hung hăng và thế giới bớt gặp rủi ro. Nếu không, sau chiến tranh bất ngờ, thì khủng hoảng kinh tế và chính trị sẽ đẩy lui Trung Quốc vào sự tàn tạ của thế kỷ 19.

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về phần nhận định khá độc đáo này.

Kính Hòa
phóng viên RFA
Theo RFA

Cách mạng Dầu khí tại Hoa Kỳ


Một bãi khai thác dầu đá phiến ở Hoa Kỳ


Hoa Kỳ lặng lẽ tiến hành một cuộc cách mạng về công nghệ chiết dầu từ đá phiến khiến sản lượng gia tăng đã làm giá giảm phân nửa, từ hơn trăm đô là một thùng xuống còn có khoảng 45 đồng. Thế rồi từ ba tháng nay, gía dầu lại tăng khi sản lượng quá lớn làm ứ đọng hệ thống tồn trữ và người ta nói đến những giới hạn, thậm chí sự chấm dứt, của công nghệ gạn cát ra dầu, hay “shale”. Sự thật ra làm sao và sản lượng dầu thô của Mỹ có còn tăng hay không? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu vấn đề này để thấy ra hậu quả lâu dài của giá dầu thô trên thế giới. Sau đây là phần trao đổi của Nguyên Lam với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, một cách khá bất ngờ sản lượng dầu thô của Hoa Kỳ đã đột ngột tăng vào năm ngoái, lên tới hơn một triệu thùng một ngày nhờ công nghệ chiết dầu từ đá phiến. Biến cố ấy được đánh giá là chưa từng thấy kể từ khi các nước bắt đầu khai thác dầu thô hơn trăm năm về trước. Sản lượng gia tăng đã đánh sụt giá dầu trong một mức độ ít ai thấy kể từ ba chục năm qua. Tuy nhiên, từ Tháng Ba vừa qua cho tới Tháng Năm này, giá dầu đã từ khoảng 45 đô la một thùng nhích lên mức 60-65 vì nhiều nơi bị ứ dầu và cả trăm giếng dầu đã bị đóng. Vì vậy, người ta nêu ra câu hỏi là liệu cuộc cách mạng về kỹ thuật khai thác dầu từ các giai tầng đá phiến có chấm dứt tại Hoa Kỳ không nếu giá dầu gia tăng làm kỹ thuật mới sẽ bớt có lời? Ông nghĩ thế nào về câu hỏi này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: -Tôi xin trước hết nói về phương pháp tìm dầu và khí đốt trong đá phiến mà người ta gọi là “fracking”. Công nghệ tìm dầu này đã có từ lâu mà chưa được chú ý, sử dụng hay cải tiến vì giá thành quá cao. Một cách khái quát, nó nhắm vào việc xoi dọc xuống các giai tầng đá phiến nằm sâu dưới mặt đấy hay mặt biển, rồi xoi ngang, và bơm xuống một dung dịch nước cùng hóa chất với áp suất cực mạnh để làm vỡ các phân tử dầu khí nằm trong đá và hút lên thành nguồn năng lượng mới. Khi giá dầu thô trên thế giới gia tăng từ năm 2008 thì nhiều doanh nghiệp Mỹ đã tìm hiểu và khai thác kỹ thuật này với cải tiến liên tục. Kết quả là sản lượng dầu mới của Hoa Kỳ đã tăng đột ngột làm giá dầu sụt mạnh vì cung lớn hơn cầu. Cũng vì quy luật cung cầu đó, khi giá dầu giảm thì nhiều loại giếng dầu mới không còn có lợi nữa và bị khóa lại chờ thời cơ thuận tiện hơn. Trong khung cảnh ấy, các thị trường mới nêu câu hỏi là cuộc cách mạng về công nghệ chiết dầu từ đá phiến có còn giá trị không? Và Hoa Kỳ có hy vọng trở thành một đại gia mới nổi về dầu khí hay không?

Nguyên Lam: Khi theo dõi tình hình khai thác dầu và hậu quả kinh tế về giá cả thì ông có tìm ra giải đáp nào cho câu hỏi này không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sau khi tìm hiểu về kỹ thuật mới thì ta nên biết thêm về hậu quả kinh doanh. Các nhà sản xuất dầu bằng công nghệ mới không là những tập đoàn dầu khí nổi tiếng toàn cầu với những giếng dầu trị giá bạc tỷ mà là doanh nghiệp nhỏ với sự hỗ trợ tài chính của giới đầu tư và không đào mà xoi dầu bằng loại thiết bị khá rẻ với khả năng di động cao theo kiểu du kích.

  Công nghệ tìm dầu này...Một cách khái quát, nó nhắm vào việc xoi dọc xuống các giai tầng đá phiến nằm sâu dưới mặt đấy hay mặt biển, rồi xoi ngang, và bơm xuống một dung dịch nước cùng hóa chất với áp suất cực mạnh để làm vỡ các phân tử dầu khí nằm trong đá và hút lên thành nguồn năng lượng mới

Nguyễn-Xuân Nghĩa
Họ tính là nếu “phí tổn biên tế” cho một thùng dầu được bơm thêm theo kỹ thuật mới mà thấp hơn giá bán trên thị trường thì còn nên bơm. Nhưng nếu giá thị trường sút giảm quá mạnh thì việc bơm thêm sẽ hết có lời và họ tạm ngưng việc sản xuất đó. Trường hợp này đã xảy ra từ nhiều tháng qua và gián tiếp làm dầu thô lên giá sau khi đụng đáy ở khỏang 45 đồng một thùng. Lý do là đa số các doanh nghiệp đào dầu theo công nghệ mới đã cải thiện được kỹ thuật khai thác để giảm phí tổn, từ khoảng sáu bảy chục đô la một thùng thì xuống tới bốn năm chục. Nhưng nếu giá hạ hơn nữa thì họ phải tính lại.

Tuy nhiên, và đây là một yếu tố mới, lồng trong cuộc cách mạng về phương cách khai thác dầu bằng công nghệ mới, các doanh nghiệp Hoa Kỳ cũng vừa hoàn thành một cuộc cách mạng khác. Đó là cách mạng về thông tin trong lĩnh vực địa chất để biết được khá chính xác tiềm năng dầu khí dưới lòng đất và khai thác có lời với phí tổn còn thấp hơn nữa, có thể là chỉ mất mươi đô la là đã ra một thùng dầu, tức là tương tự như hiệu năng rất cao của xứ Á Rập Saudi.

Nguyên Lam: Nếu như vậy, thưa ông, trong tương lai, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đào dầu và giữ vị trí số một về nguồn năng lượng này. Nhưng xin đề nghị ông trình bày thêm về cuộc cách mạng thông tin liên hệ đến dầu khí. Nó là cái gì vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đều nghe nói đến kỹ thuật số hay “digital” với khả năng vận trù hàng triệu tỷ “bytes” trở lên, hay “petabytes”. Cuộc cách mạng về công nghệ tin học tại Hoa Kỳ và vài xứ khác không ngừng phát triển và cải tiến liên tục nên nhờ đó con người biết thêm rất nhiều điều trước đây không nhìn thấy hay đếm ra, như trong lĩnh vực điện toán, y tế, cơ thể học hay các chủng tố trong cơ thể. Kỹ thuật đó cũng được lĩnh vực năng lượng khai thác để biết rõ tiềm năng về dầu khí gần như trong từng mét vuông của lãnh thổ. Nhờ sự hiểu biết này, các doanh nghiệp có thể biết triển vọng đào dầu ở từng nơi, trong cả triệu giếng dầu sẽ khai thác được.

Nguyên Lam: Khi ông dùng chữ “sẽ khai thác được” thì điều ấy có nghĩa là gì? Là được phép khai thác, hay có đủ tư bản để khai thác hay khai thác mà có lời?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng mình có thể thấy ra tiềm năng từ cả ba yếu tố đó. Trước hết là từ yếu tố chính sách hay luật lệ để nhà nước cho phép doanh nghiệp tiến hành việc khai thác ở nhiều nơi trong lãnh thổ hay lãnh hải với quy chế thuế khóa khác. Thứ hai là yếu tố tư bản, là giới đầu tư thấy được tiềm năng mà liều lĩnh tài trợ việc khai thác và cải tiến công nghệ ấy. Thứ ba là yếu tố kinh doanh lời lỗ, là lần lượt chọn lựa nơi khai thác có lời nhất căn cứ trên giá cả. Cho tới nay, sau đợt cách mạng đầu tiên thì các mẻ dầu khai thác được đã bị ứ vì thiếu nơi tồn trữ. Nhưng song song, nhiều doanh nghiệp vẫn tiếp tục khảo sát, xoi ống bơm dầu mà cứ để đó và không bơm thêm. Trong một tương lai không xa là vài ba năm nữa thôi, cuộc cách mạng đợt hai nhờ kỹ thuật số và các thiết bị mới hơn sẽ giúp các doanh nghiệp đào thêm dầu nhanh hơn với giá thành còn thấp hơn. Khi ấy, nước Mỹ sẽ làm đảo lộn kỹ nghệ dầu khí và kinh tế năng lượng của thế giới.

Khai thác dầu tại Monterey Shale, California với kỹ thuật fracking hôm 24/3/2014. AFP
Nguyên Lam: Nếu kiểm điểm lại từng bước của việc khai thác dầu khí từ cả trăm năm nay thì người ta đã tiến tới trình độ khai thác gọi là hiện đại mà nay đang thành cổ điển với các giếng dầu bạc tỷ của các tập đoàn lớn. Thế rồi bỗng dưng người ta thấy xuất hiện các doanh nghiệp loại nhỏ với dàn khoan tốn chừng vài chục tới vài triệu đô la, có khả năng di động cao và có thể tìm tới nơi đào dầu mới, ở ngoài ba khu vực lớn nhất trong lãnh thổ Hoa Kỳ. Bây giờ thì coi bộ các doanh nghiệp còn có bước nhảy vọt nữa nên người ta mới có triển vọng đào ra dầu mà tốn chừng mươi đô la một thùng. Thưa ông, phải chăng Chính quyền Mỹ đã yểm trợ hai đợt cách mạng đó?

  Hoa Kỳ cũng vừa hoàn thành một cuộc cách mạng khác. Đó là cách mạng về thông tin trong lĩnh vực địa chất để biết được khá chính xác tiềm năng dầu khí dưới lòng đất và khai thác có lời với phí tổn còn thấp hơn nữa, có thể là chỉ mất mươi đô la là đã ra một thùng dầu

Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra, Chính quyền Hoa Kỳ không yểm trợ công nghiệp dầu khí mà còn có ý ngược, là khai thác lĩnh vực quang năng làm giải pháp thay thế. Đó là lấy năng lượng bằng ánh sáng mặt trời và còn trợ cấp cho doanh nghiệp, như trường hợp công ty Solyndra tại California được giúp tới 500 triệu đô la mà lại phá sản. Thật ra, dù không được nhà nước chiếu cố, yếu tố cạnh tranh mới khiến tư doanh phát huy sáng kiến. Họ cải tiến năng suất để tốn ít tiền hơn mà vẫn có một thùng dầu theo tiêu chuẩn bảo vệ môi sinh còn cao hơn trước.

- Tôi thiển nghĩ là ta nên mường tượng ra sự thể chẳng khác gì cuộc cách mạng vừa qua trong lĩnh vực viễn thông. Người ta phát minh và sản xuất ra loại điện thoại di động, rồi “điện thoại khôn” với khả năng thông tin rất lớn và giá thành rất rẻ làm đảo lộn khu vực điện thoại. Cuộc cách mạng tự phát ấy xảy ra ngoài sự dự liệu của nhà nước và còn cải thiện gần như mỗi ba tháng phong cách sinh hoạt của con người. Lĩnh vực dầu khí cũng đang có các đợt cách mạng dồn dập như vậy nên giá thành sản xuất dầu khí còn chi phối tiến trình sản xuất của mọi ngành khác. Từ nhiều thập niên, kỹ nghệ chế biến của Hoa Kỳ đã sa sút vì phí tổn quá cao so với khu vực dịch vụ và gây tranh cãi về chính sách kinh tế hay thương mại. Nhưng với sự cải tiến bất ngờ của kỹ thuật dầu khí, khu vực chế biến tại Hoa Kỳ đang hồi sinh và tiếp nhận được nhiều nguồn đầu tư mới.

  Trong một tương lai không xa là vài ba năm nữa thôi, cuộc cách mạng đợt hai nhờ kỹ thuật số và các thiết bị mới hơn sẽ giúp các doanh nghiệp đào thêm dầu nhanh hơn với giá thành còn thấp hơn. Khi ấy, nước Mỹ sẽ làm đảo lộn kỹ nghệ dầu khí và kinh tế năng lượng của thế giới

Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Giới chuyên môn tại Hoa Kỳ có vẻ lạc quan tin tưởng vào triển vọng đó, ông nghĩ sao về câu hỏi này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thú thật là có đọc thấy nhận định của một Giáo sư Hoa Kỳ nên mới giật mình tìm hiểu thêm chứ làm sao mình có thế biết hết mọi chuyện được. Ông John Shaw là Trưởng ban Khoa học về Địa cầu của Đại học Harvard có lần phát biểu rằng “nói không sai, hình như ta không ở vào giai đoạn cuối của thời chiết đá ra dầu mà mới chỉ ở vào giai đoạn đầu thôi”.

- Khi tìm hiểu thêm thì mình mới thấy ra nhiều thay đổi gần như toàn diện, trong việc chiết đá ra dầu, như trù hoạch dự án, tiếp liệu hậu cần, định hình nơi khai thác một cách chính xác, dùng máy tự động hay “robotics”, kể cả máy bay “drone” cùng tia “laser” cực mạnh, xử lý dung dịch hóa chất cao cấp để thủy giải hay nhiệt giải với tốc độ nhanh hơn và phí tổn thấp hơn, v.v… Trong ngần ấy tiến bộ, có lẽ yếu tố quan trọng nhất là khả năng vận trù một lượng thông tin cực lớn để tìm ra giải pháp người ta gọi là tối hảo, tức là có giá trị kinh tế cao nhất với phí tổn tài chính hay môi sinh thấp nhất. Có lẽ chúng ta đang chứng kiến một đợt cách mạng mới đang xảy ra trước mắt.

Nguyên Lam: Một cách thận trọng, thưa ông, đâu có thể là những trở ngại hay khó khăn của cuộc cách mạnh này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Như trong mọi trường hợp của người đi tiên phong, họ thường bị bắn vào lưng vì sự khai phá có thể va chạm vào quyền lợi của người khác ở đằng sau. Tại Hoa Kỳ, người ta cứ gán cho kỹ nghệ dầu khí những hình ảnh xấu xa và điều ấy có thể ảnh hưởng đến chính sách, luật lệ và chế độ thuế khóa. Thứ hai, Hoa Kỳ vẫn còn bị ràng buộc bởi hai đạo luật cổ xưa là luật cấm xuất khẩu dầu thô đã ban hành từ hơn 40 năm trước và luật hạn chế việc chuyển vận dầu khí bằng thương thuyền căn cứ trên đạo luật Merchant Marine Act ban hành từ năm 1920. Chuyện thứ ba thì mới hơn, đó là sau vụ khủng hoảng 2008, Hoa Kỳ có thêm qua nhiều luật lệ kiểm soát doanh nghiệp khiến giới đầu tư ngần ngại lập ra doanh nghiệp mới và có lẽ đây là lý do khiến kinh tế chậm phục hồi. Sau cùng ta còn có luật lệ về quản lý đất đai hay công thổ của liên bang theo đó có nhiều khu vực không được quyền khai thác. Trào lưu bảo vệ môi sinh sẽ sử dụng hệ thống luật lệ ấy khiến cho dù người ta được biết là có tiềm năng dầu ở dưới thì vẫn không được thăm dò và khai thác. Có thể là sau cuộc bầu cử năm tới, tình hình sẽ thay đổi với một hệ thống lãnh đạo mới.

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi nà

Nguyễn Lam, Nguyễn Xuân Nghĩa
phóng viên RFA
Theo RFA

 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑