Tin Tức Cập Nhật 24/7

Tin Mới Nhất

HOT VIDEO CHANNEL - TV Bài nói về Biển Đông & TQ cực hay của Trung tương Phạm Văn Dỹ - Chính Ủy QK 7
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Dục. Hiển thị tất cả bài đăng

Hiệu Minh - Lan man về trường Công, Tư, Chuyên và Quốc tế


Trên VNE có thăm dò “Nếu đủ điều kiện, bạn muốn cho con học trường nào?” được hơn 100.000 người tham gia, trong đó trường quốc tế đang là lựa chọn số 1 (48%) trong khi trường công (23%) và chuyên (22%) có tỷ lệ ngang ngửa.
Lan man về trường Công, Tư, Chuyên và Quốc tế
Nếu thăm dò này thực hiện tại Mỹ thì kết quả sẽ là trường tư sẽ dẫn đầu vì Mỹ không có trường chuyên kiểu VN được đầu tư, ưu tiên mọi nhẽ. Và khó có quốc gia nào lại đầu tư trường quốc tế vào Hoa Kỳ, chết từ vòng gửi xe.

Người Việt hướng ngoại là đương nhiên vì quan lớn, nhà giầu toàn gửi con du học. Kêu gọi “người Việt yêu hàng Việt” hơi bị khó do không có tấm gương nào để soi. Thăm dò trên phản ánh trung thực bức tranh nền giáo dục xứ ta.

Trong 4 loại hình trường trên, trường Quốc tế sẽ phát triển, có thực chất, có khi chỉ là tên gọi… nhưng là xu hướng của nước nghèo, sinh ra cho nước giầu đến mở trường. Trường Tư èo uột dù có nhiều tên tuổi nhưng tâm lý dân ta “ăn chắc mặc bền”, chọn nhà nước là đương nhiên do được ưu tiên.

Như vậy chỉ còn Chuyên và Công do nhà nước đẻ ra và nuôi nấng. Chuyên được ưu tiên tuyệt đối và Công như đứa con rơi. Đó chính là sự bất bình đẳng trong giáo dục… nhà nước. Chuyên dành cho nhà giầu, Công dành cho nhà nghèo và vừa vừa. Học phí có chênh lệch chút thì không thể so với học phí Công (miễn phí) – Tư (giá trên trời) bên Mỹ.

Giải pháp tốt nhất là xóa trường Chuyên, chuyển đổi (mua bán) thành trường Tư. Ai có tiền, con học giỏi thì vào trường Tư. Không đủ kinh phí thì cứ trường Công mà chơi, có ngày lên Bộ trưởng, thiếu gì VIP toàn học trường Công. Blog đã bàn chán chê từ năm 2013, giờ chỉ nhắc lại.

Lê Quang Tiến Kể chuyện thi gà

Nhớ chuyện anh Lê Quang Tiến (FPT?) kể vui trên VNE năm 2013 về chuyện đi thi gà chọi quốc tế năm 1975. Nước ta có 8 học sinh (số lượng tối đa cho một đoàn) giành được một huy chương Bạc, 3 huy chương Đồng và đứng thứ 10. Mỹ cũng tham gia lần thứ hai, có 8 học sinh giành được 3 huy chương Vàng, một huy chương Bạc, 3 huy chương Đồng và chỉ đứng sau Hungary và Đông Đức.

Thầy Phan Đức Chính, Trưởng đoàn Việt Nam hồi đó, bật mý cách Mỹ chọn và dạy học sinh đi thi thế nào?

Mỹ làm thế này: Họ thông báo là thế giới tổ chức International Math Olympics. Mỹ cử đoàn đi, chọn các em dưới 19 tuổi, chưa học đại học. Nếu số lượng đăng ký trên 8 thì tổ chức thi loại, dưới 8 thì ai đăng ký đều được đi. Đoàn tự thu xếp kinh phí (gia đình cho tiền, xin tài trợ của tổ chức, cá nhân). Chính phủ Mỹ không cho tiền, cũng chẳng dạy dỗ gì cả. Mặc dù là trò chơi vớ vẩn nhưng Mỹ luôn đứng trong Top 3.

Việt Nam và các nước XHCN làm thế này: Từ cấp 2 (lớp 5-7) đã phải thi đấu vào lớp chuyên của trường, tỉnh/thành phố. Đến cấp 3 (lớp 8-10) lại thi đấu vào trường chuyên của Bộ Đại học, của tỉnh. Hình thành một loại “gà nòi” chỉ để thi đấu: Chuyên toán của Bộ Đại học có ĐH Tổng hợp, Sư phạm Hà Nội, Sư phạm Vinh. Chuyên toán của các tỉnh như Chu Văn An (Hà Nội), Lam Sơn (Thanh Hóa), Lê Hồng Phong (Nam Định)…

Rồi “bọn gà” này lại qua hàng chục vòng đấu để chọn ra 14 “con” vào đội tuyển toán quốc gia. Từ đó, sau 90 ngày khổ luyện qua 45 bài kiểm tra lấy ra 8 “con gà” để đi thi. Tiền tuy không nhiều nhưng do ngân sách Nhà nước chi trả cả.

Mặc dù thuần túy chuyên môn đi chọi nhưng ngay từ năm 1975 đã có vô số yếu tố phi chuyên môn len vào quá trình lựa chọn như: Đủ thành phần nam, nữ; Cân đối số lượng giữa các trung tâm “gà” (hồi đó là ĐH Tổng hợp và ĐH Sư phạm); Thêm cả yếu tố đạo đức, lý lịch, thành phần giai cấp…

Tôi từng tham gia đào tạo gà chọi IT đi thi thế giới những năm 1990 nên công nhận anh Tiến nói đúng CMNR. Trường Chuyên mang tiếng nuôi gà chọi là vì thế.

Chuyên biệt để làm gì – Kỷ niệm của tôi

Thời tôi học cấp 3 (1967-1970) cũng có lớp chuyên Toán (vì hồi đó bác Bửu thích Toán?), gọi là lớp đặc biệt, có khoảng 20 (++) bạn giỏi nhất tỉnh thời đó, thi vào cực khó.

Các bạn được 13,5kg gạo, tiền ăn 9VNĐ và 5VNĐ tiêu vặt, có phiếu vải 3m, ở trọ không mất tiền do dân cho ở nhờ, có bếp ăn chung với trường, toàn các thầy cô giỏi đứng lớp. Tôi không nhớ hết nhưng được nhà nước chu cấp hoàn toàn, việc của các bạn là giải tính đố. Thời đó bọn lớp bình thường như tôi và bọn đặc biệt như mặt đất và thiên đường, thiên đường được đầu tư gấp 20-30 lần lũ phổ thông với số 0 tròn vo.

Các bạn ý cũng đi thi miền Bắc, hình như có giải khuyến khích (không nhớ rõ), về được khen hết lời. Lúc đi nước ngoài có tới một nửa trong danh sách. Tôi tin sái cổ là trong tương lai các bạn sẽ chiếm giải hết Nobel mang về cho quê hương.

Nửa thế kỷ gặp lại (10-2019) thì lớp đặc biệt ấy và cánh phổ thông có tỷ lệ thành công/thất bại ngang nhau. Về phần chức tước cánh phổ thông có vẻ nhỉnh hơn vì có người trong lớp tôi suýt lên đại tướng CA, cấp tá đông như quân Nguyên… do đi lính nhiều.

Tới giờ tôi chỉ thừa nhận các bạn lớp chuyên ấy giỏi làm tính đố trên giấy. Một người được đầu tư 13,5kg gạo/tháng, 13VNĐ/tháng, so với thằng cu học phổ thông với đầu tư 0 kg gạo, 0 VNĐ, còn phải đóng học phí năm 5VNĐ, mà ra đời không giỏi hơn 20-30 lần thì chuyên biệt để làm gì.

Hãy bán trường Chuyên cho trường Tư để cho nền giáo dục công bằng về … cơ hội.

Phụ huynh Trường tiểu học Trần Văn Ơn căng băng rôn yêu cầu hiệu trưởng trường này phải công khai, minh bạch tài chính

Chiều 30.6, hàng chục phụ huynh đã kéo đến Trường tiểu học Trần Văn Ơn (Q.Tân Bình, TP.HCM), căng băng rôn yêu cầu hiệu trưởng trường này phải công khai, minh bạch tài chính.

Tại trường, nhiều phụ huynh bức xúc cho biết trong nhiều năm con học ở đây, họ đã đóng góp nhiều khoản phí cho con học thêm Anh văn, kỹ năng sống, tiền quỹ phụ huynh… và nhiều khoản khác như tiền điện, tiền thuê máy lạnh… nhưng phía nhà trường không hề công khai các khoản thu, chi, không xuất biên lai khi thu tiền...

Trường không đồng ý mua máy lạnh mới

Cụ thể, theo chị Nguyễn Thị Thu Huệ, đại diện Chi hội phụ huynh Trường tiểu học Trần Văn Ơn, cho biết chị có hai con đều học ở đây. Bốn năm trước khi bà Nguyễn Thị Hồng Yến về trường làm hiệu trưởng thì nhiều khoản thu chi không được công khai như trước đây, các khoản tiền khác của con cũng thu nhiều hơn.

Cụ thể, từ năm học 2017-2018 tới nay trường thu học Anh văn với mức 160.000 đồng/học sinh, và thu liền cùng lúc 9 tháng trong khi những trường khác chỉ thu 5-6 tháng/năm học. Vì trên thực tế, những tháng hè và tết học sinh không học hết tháng, nhưng hiện những khoản tiền thừa này hiệu trưởng không báo cáo lại cũng như không chi trả cho phụ huynh.

“Chương trình kỹ năng sống trường thu mỗi em 60.000 đồng/học sinh, và trường thu cùng lúc 8 tháng liền. Trong đó, một số tháng học sinh không được học. Ngoài ra, trường thu tiền kỹ năng sống của hơn 900 học sinh, nhưng bên trung tâm dạy kỹ năng sống chỉ tính tiền của 700 em (do thỏa thuận “khuyến mãi” giữa trung tâm và trường - PV), vậy số tiền cô Yến thu của 200 em còn lại giờ ở đâu?”, chị Huệ và nhiều phụ huynh khác đặt câu hỏi.

Đại diện Phòng GD-ĐT quận Tân Bình cùng ban giám hiệu nhà trường đối thoại với phụ huynh.

Ngoài ra, trường cũng thu nhiều khoản khác, như tiền thuê máy lạnh, khoảng 10 triệu đồng một học kỳ/1 lớp. Phụ huynh thấy quá đắt nên đã yêu cầu trường cho phụ huynh đóng góp mua luôn máy mới về gắn để đỡ tiền đi thuê nhưng phía trường không đồng ý…

Phụ huynh thắc mắc về khoản tiền điện do họ đóng góp cho trường còn tồn 78 triệu đồng từ năm ngoái. Các biên lai thu tiền cũng bị phản ánh không hợp lý, gây khó hiểu cho phụ huynh…

Theochị Minh Châu, một phụ huynh của trường cho biết, trước đó phụ huynh đã nhiều lần đến trường yêu cầu hiệu trưởng công khai các khoản thu chi, trường có thừa nhận có một số khoản thừa và đã trả lại cho phụ huynh. Nhưng số tiền thừa này trả không đúng, không đủ và không có biên lai ghi nội dung trả. "Mọi khoản thu chi của trường đều bất hợp lý, chúng tôi yêu cầu hiệu trưởng phải công khai, xác nhận các khoản thu thừa và phải trả đủ cho học sinh, chứ không phải chỉ trả cho những phụ huynh lên tiếng, còn những người khác thì không", chị Châu nói.

"Học sinh không học thì trường phải trả lại tiền cho phụ huynh"

Trước phản ứng của phụ huynh, phía ban giám hiệu trường và đại diện Phòng GD-ĐT quận Tân Bình đã mời phụ vào hội trường làm việc.

Tại buổi làm việc, bà Nguyễn Thị Hồng Yến, Hiệu trưởng Trường tiểu học Trần Văn Ơn, cho biết sẽ có báo cáo cụ thể về các khoản thu, chi theo thỏa thuận, danh sách đóng của từng phụ huynh để trả dứt điểm trong tuần tới.

Còn ông Phan Văn Quang, Phó phòng GD-ĐT quận Tân Bình, cho biết đã yêu cầu trường kê khai lại các khoản thu chi, kế toán của phòng sẽ tham gia giám sát quá trình làm việc để đảm bảo tính minh bạch.

“Đây là các khoản thu tự nguyện giữa trường và phụ huynh, với tiền học Anh văn và kỹ năng sống, tháng nào học sinh không học thì trường phải trả lại cho phụ huynh. Còn các khoản khác, khi trường thống kê nếu thừa thì phải trả lại ngay”, ông Quang nói.

http://xuandienhannom.blogspot.com/

Tham nhũng trong giáo dục Việt Nam tồn tại công khai vì nó “được phép” tồn tại


Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Trong quyển “Waging War on Corruption”, Frank Vogl viết: “Tội ác của tham nhũng không phải là những vấn đề trừu tượng. Cứ mỗi khi một viên chức ăn cắp tiền từ chiếc ví công thì ai đó phải chịu đau khổ. Mỗi khi một viên chức hành xử như một kẻ côn đồ thì sẽ có một nạn nhân”.

Có bao nhiêu “viên chức ăn cắp tiền từ chiếc ví công” trong hệ thống quản lý giáo dục Việt Nam? Đây mới thật sự là vấn đề cần được Bộ giáo dục trả lời thay vì tiếp tục “ăn cắp tiền từ chiếc ví công” từ “dự án” này đến “dự án” khác trong khi nền giáo dục nước nhà ngày càng thảm hại.

Tham nhũng trong giáo dục Việt Nam thậm chí “nổi tiếng” đến mức nó nằm trong hồ sơ nghiên cứu của Muriel Poisson (đặc trách viên của Viện kế hoạch giáo dục quốc tế thuộc UNESCO). Poisson tỏ ra am hiểu đặc biệt khi dẫn ra những chuyện liên quan chạy trường, hối lộ giáo viên để được nâng điểm, học sinh buộc phải học thêm nếu không muốn bị “đì”…

Tham nhũng trong giáo dục Việt Nam tồn tại công khai mà chẳng ai làm gì. Nó tồn tại vì nó “được phép” tồn tại trong một guồng máy quản lý cồng kềnh vận hành cực tồi nằm trong một hệ thống lỗi từ trong lõi, tạo điều kiện và môi trường cho tiêu cực. Cơ chế trường điểm, cơ chế đúng tuyến… không mang lại “trật tự giáo dục” cho xã hội. Nó trở thành đường dây tham nhũng ngày càng phình to. Những đường dây “chạy” hàng ngàn đôla cho “trường điểm” đã trở thành “bộ máy thứ cấp” của guồng máy quản lý giáo dục. Nó thậm chí hoạt động trơn tru hơn cả hệ thống quản lý của Bộ giáo dục.

Ngày 2-6-2016, Bộ GD&ĐT gửi công văn đến giám đốc các sở giáo dục toàn quốc, yêu cầu triển khai các giải pháp “chấn chỉnh tiêu cực phát sinh do việc xin học trái tuyến và học chọn lớp, hiện tượng chạy trường, chạy lớp; đồng thời nghiêm cấm việc tổ chức các trường chuyên, lớp chọn ở cấp mầm non, tiểu học và trung học cơ sở dưới bất kỳ hình thức nào” và “tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm khắc các hiện tượng tiêu cực nhằm chạy trường, chạy lớp”. Tuy nhiên, trong thực tế, chẳng cần phải “tăng cường công tác thanh tra” làm gì, chỉ cần đứng trước cổng tại các trường điểm cấp quốc gia, hỏi dò giá chạy bao nhiêu và chạy ở đâu là ra cả.

Sự “tồn tại” của nền giáo dục nước nhà bây giờ nằm ở bảng giá quy định của các đường dây “chạy”. Không chỉ phụ huynh “chạy”, hiệu trưởng cũng “chạy”, giám đốc sở cũng “chạy”.

Khi danh hiệu “anh hùng lao động” còn “chạy” được thì “chạy” chức hiệu trưởng là chuyện nhỏ. Khi ghế “đại biểu Quốc hội” còn chạy được thì việc “chạy” một chiếc ghế con con ở bàn giám đốc sở giáo dục là “bình thường”.

Cả nước này đang đi lùi. Chỉ có hành vi “chạy” trong hệ thống tham nhũng từ trung ương xuống địa phương là vận hành hết tốc lực. Nó chạy rất trơn. Chẳng ai làm gì nó.

Các ông quan giáo dục sẽ rất khó trả lời câu hỏi rằng hiện giờ con cái của họ đang học ở đâu; nhưng, nếu bạn có “quan hệ” tốt, họ có thể cho bạn biết đường dây nào chạy bằng tiến sĩ dỏm.

FB Mạnh Kim

Người Việt có tài giỏi như chúng ta đang tự hào?


Cũng trong bảng xếp hạng "quốc gia tử tế", Simon Anholt xát muối thêm: "Đáng nói là, các chỉ số như số lượng sinh viên học tập tại nước ngoài, số bài báo quốc tế, số xuất bản phẩm quốc tế, số bằng sáng chế của Việt Nam theo bảng xếp hạng này đều ở mức thấp hơn so với trung bình chung của thế giới".

Việt Nam xếp áp chót trong bảng xếp hạng các "quốc gia tử tế". Ảnh: VietNamNet

Người Việt Nam ta có thực là một dân tộc thông minh, với những đóng góp giá trị cho văn minh nhân loại như nhiều người thường tự hào? Lần lại cả lịch sử và hiện tại, câu trả lời khá buồn.

Trước đây, ta thường nghe báo chí nói rằng nhà đầu tư nước ngoài đánh giá rất cao người Việt Nam thông minh, cần cù, khéo tay… và tương lai không xa nữa nền kinh tế Việt Nam sẽ "hóa rồng", "hóa cọp".

Những lời có cánh sẽ chắp cho ước mơ của người Việt Nam bay bổng. Nhưng thực tế hiển nhiên và lời nói thật sẽ kéo ta về gần hơn với thực tại.

Một dân tộc thông minh, cần cù, khéo tay lẽ nào lại là chủ nhân của một quốc gia nhận viện trợ rất nhiều? Và là chủ nhân của một quốc gia có đôi lúc "không chịu phát triển" như lời Chuyên gia kinh tế nước ngoài nói với bà Phạm Chi Lan?

Tháng 6 năm 2014, nhà cố vấn chính sách độc lập Simon Anholt công bảng xếp hạng "Good Country Index" (Chỉ số quốc gia tử tế), Việt Nam đứng áp chót bảng xếp hạng 124/125 nước được điều tra (chỉ trên mỗi quốc gia đang chìm trong nội chiến là Lybia).

Đây là chỉ số xếp hạng mức đóng góp của các quốc gia cho thế giới. Và như vậy, Việt Nam chúng ta là một trong những quốc gia có đóng góp tối thiểu cho phồn vinh nhân loại.

Tất nhiên sẽ có những người "phản pháo" Simon Anholt! Người Việt Nam có thể đổ lỗi rằng cơ chế, môi trường khiến chúng ta không thể phát huy hết năng lực của mình. Sẽ biện bạch rằng ở những nước phát triển, người Việt Nam thực sự không kém ai.

Người Việt thành danh tại nước ngoài, tiêu biểu có Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu, GS.TS.Hùng Nguyễn (Đại học Sydney ở Australiavới phát minh xe lăn điều khiển thông qua ý nghĩ của con người), Bác sĩ Phạm Hoàng Tánh (Dr. Randal Pham - Chủ tịch Hội Y Bác sĩ Hoa Kỳ đã phát minh ra phương pháp mới giúp những người có bệnh về mắt không phải đeo kính)…

Về chính trị có Philipp Rösler – một người đã từng làm tới Phó thủ tướng của Cộng Hòa Liên Bang Đức… Còn rất nhiều người thành đạt mà do hiểu biết hạn hẹp của mình tôi không biết tên nữa.

Và du học sinh Việt Nam, sinh viên gốc Việt theo học tại Đài Loan, Nhật Bản, Hoa Kỳ, hay Tây Âu rất xuất sắc. Nhưng đấy là ta nói sự thành công vượt bậc của người Việt Nam và so sánh với chính người Việt Nam trong nước.

Vậy còn cộng đồng người Do Thái, Ấn kiều, người Hoa kiều, Myanmar… thì sao?

Cũng trong bảng xếp hạng "quốc gia tử tế", Simon Anholt xát muối thêm: "Đáng nói là, các chỉ số như số lượng sinh viên học tập tại nước ngoài, số bài báo quốc tế, số xuất bản phẩm quốc tế, số bằng sáng chế của Việt Nam theo bảng xếp hạng này đều ở mức thấp hơn so với trung bình chung của thế giới".

Và nhìn về lịch sử - nhìn về văn minh, văn hiến hay sức phát triển quốc gia, ta sẽ thấy người Việt Nam hôm nay còn rất nhiều tồn đọng cần vượt qua.

Hãy cứ so sánh Việt Nam trong không gian Á Đông để định vị lại chính mình.

Chữ viết là một trong những thước đo quan trọng của nền văn minh. Trong cuốn "Nguồn gốc gia đình và chế độ tư hữu", Friedrich Engels cho rằng chữ viết có vần và việc sử dụng chữ để ghi lời văn là bước chuyển qua thời đại văn minh.

Cha ông ta đã vật lộn với Hán tự rồi tạo ra chữ Nôm theo cách phức tạp hóa một thứ chữ vốn rất phức tạp. Chữ Nôm không thành công bất chấp việc những nhà trí thức khoa bảng, những vị minh quân Việt Nam bỏ công theo đuổi hàng trăm năm.

Nhưng ngót 600 năm trước, tại vương quốc Joseon (Triều Tiên), Sejong đại đế nhận ra chữ Hán rất khó học, không thể phổ cập cho bình dân, ông quyết tâm làm ra chữ viết riêng cho vương quốc của mình.

Vượt qua rất nhiều thử thách, cùng các bề tôi tin cẩn, Sejong đại đế đã sáng tạo ra Hangul với bảng chữ cái, nguyên âm và phụ âm. Đó là chữ viết của Hàn Quốc và Triều Tiên hôm nay.

Với Nhật Bản thì sao?

Trong lịch sử Nhật Bản có một giai đoạn mà đặc biệt đáng chú ý. Đó là việc Mạc phủ (tướng quân) nhà Tokugawa thực hiện chế độ Châu Ấn Thuyền (Shuinsen).

Những thuyền buôn Nhật Bản được cấp giấy thông hành (Châu Ấn Trạng) tỏa ra buôn bán khắp Nam Dương (vùng Đông Nam Á theo cách gọi của Nhật Bản).

Tại Việt Nam, những đoàn thuyền buôn Nhật Bản đã góp phần làm nên phố Nhật ở Hội An.

Người Việt Nam không sáng tạo ra chữ viết của mình (hoặc đến giờ chúng ta chưa tìm được những bằng chứng rõ ràng về chữ viết của người Việt cổ), cũng không buôn bán đường biển lừng lẫy như Nhật Bản.

So với Chiêm Thành, với Khmer, các công trình kiến trúc còn đến ngày nay đủ chứng minh các vương quốc này không hề thua kém Việt Nam về trình độ văn minh.

Người Khmer từng có một đế quốc rộng cả triệu km2 trước khi những sức mạnh của người Thái (vương quốc Xiêm – Siam) lan tràn trên bán đảo Indochina. Chiêm Thành đã từng là quốc gia mạnh về buôn bán đường biển.

Và hẳn nhiều người trong chúng ta cũng biết đến Đế quốc Majapahit với nền văn hóa rực rỡ ảnh hưởng đến quần đảo Mã Lai, góp phần quan trọng làm nên Indonesia ngày nay.

Không chỉ là lịch sử mà hiện tại, tương lai đang thách thức người Việt Nam.

30 năm Đổi mới, GDP bình quân đầu người của nước ta tăng từ 86USD/năm/người lên 2.300 USD; từ năm 1989 đến cuối 2015 quy mô kinh tế tăng 32 lần (từ 6,3 tỷ USD lên 204 tỷ USD). Đó là một thành tựu lớn, nhưng đấy là ta tự hào với chính ta.

Sau 30 năm, nhiều quốc gia trong khu vực đã công nghiệp hóa thành công, còn Việt Nam mục tiêu "đến năm 2020, cơ bản thành một nước Công nghiệp" vẫn trở nên xa vời.

Năm 1990, khoảng cách về GDP bình quân đầu người của Việt Nam so với thế giới là 4.000 USD, đến nay đã là 8.000 USD.

Nhìn lại mình một cách chân thực là việc đầu tiên cần phải làm để tiến trình "Hóa rồng", "hóa Cọp" có thể khởi động thành công. Tự huyễn hoặc, chúng ta sẽ sa lầy trong những cái bẫy tự tạo ngay dưới chân mình.

Sông Hàn-Duy Linh

(Soha News)

Tản mạn mùa tựu trường


Đi học trong thời kỳ này không chỉ đơn thuần là để xóa mù chữ, mà đã được nhìn nhận như một việc hết sức cần thiết, cần được chú trọng và nâng cao.
Gần đến ngày khai giảng, một cô bạn rủ tôi đi mua sắm đồ đạc cho con mình sắp bước vào lớp 1. Cô bé cũng đi cùng rất hồn nhiên và đáng yêu, trên khuôn mặt nhỏ xíu kia đã có cặp kính to đùng đi kèm. Bạn tôi kể là do đưa con đi học thêm nhiều, trước khi vào lớp 1 bé không chỉ biết tập đọc tốt mà nói tiếng Anh cũng rất hay. Việc bé bị cận sớm cũng khiến bạn buồn nhưng con biết đọc biết viết nhanh vừa là niềm an ủi, vừa là niềm vui. Trong lớp học thêm tập đọc của con, nhiều bé còn chưa biết đánh vần thành thạo khiến cô giáo phải mở thêm giờ dạy kèm riêng.

Tôi không lấy làm lạ. Những việc như đưa con học thêm học nếm ngay từ nhỏ đã trở nên quen thuộc tại các thành phố lớn nhiều năm gần đây. Các trung tâm tiếng Anh luôn dày đặc lịch học vỡ lòng cho các khách hàng nhí. Các buổi chiều tan tầm, cha mẹ đứng đợi con trước cổng trung tâm học thêm cũng dày đặc như đứng trước cổng trường học vậy. Ở thế hệ của chúng tôi, việc học thêm bởi chương trình quá tải mới bắt đầu ở những năm học cuối trung học để ôn thi lên lớp 10 và trở nên hết sức cần thiết khi bước vào cấp 3. Nhưng nếu chúng tôi phải dành trọn cả mùa nghỉ hè những năm 16 - 17 tuổi để “cày bừa” trong các lò luyện thi thì các em học sinh ngày nay dường như đã đánh mất những mùa hè ấy ngay từ khi biết đến 2 từ “đi học.”

Đi học trong thời kỳ này không chỉ đơn thuần là để xóa mù chữ, mà đã được nhìn nhận như một việc hết sức cần thiết, cần được chú trọng và nâng cao. Các bậc cha mẹ sinh con ra, nuôi nấng đứa con chưa kịp hiểu trọn vẹn về khả năng của chúng đã phải uốn nắn với đủ kiểu giáo dục sớm. Không chỉ các trung tâm tập đọc, học đếm hay học ngoại ngữ ngày càng trở nên phổ biến với các em nhỏ mà các chương trình dạy kỹ năng mềm cũng đang phát triển mạnh mẽ. Sự chuẩn bị sớm sủa ấy vừa xuất phát từ nỗi lo sợ con mình không theo kịp các chương trình giảng dạy trên lớp, vừa là để thỏa mãn niềm mong muốn con mình giỏi hơn con người. Cuộc nói chuyện của các bậc phụ huynh với nhau nơi cổng trường quanh quẩn việc con đã đếm được đến số mấy, làm được những phép tính gì, nhớ được bảng chữ cái tiếng Anh hay chưa… Đằng sau niềm sung sướng, sự tự hào mãn nguyện ấy là tâm lý ganh đua của những người cha, người mẹ dẫn đến việc cố gò bó con cái trong 4 bức tường lớp học suốt những năm tháng của tuổi thơ.

Vài năm trước, người dân thành thị Việt “phát sốt” với thần đồng đất Việt Đỗ Nhật Nam 12 tuổi, khi cậu bé cho ra cuốn sách của mình chia sẻ về kinh nghiệm học tiếng Anh. Sau cuộc phỏng vấn ngắn ngủi cùng câu nói kinh điển “truyện tranh là con sâu đục khoét tâm hồn”, cha mẹ cậu bé đã nhận nhiều chỉ trích bởi cách nuôi dạy cực đoan đánh mất đi tuổi thơ của con trẻ. Tuy nhiên, đa số các bậc phụ huynh lại vô cùng thích thú và hoan nghênh cách giáo dục con như vậy. Nhìn chung, cha mẹ Việt tại các thành phố lớn đang giáo dục con theo một công thức chung khi tận dụng mọi khả năng để con cái mình được tiếp xúc với môi trường giáo dục tốt nhất từ rất sớm, hiện nay là các trường quốc tế. Con cái họ sẽ cần phải học giỏi các môn học đặc biệt là ngoại ngữ để hy vọng đi du học nước ngoài càng sớm càng tốt dưới điều kiện tân tiến hơn. Học sớm cũng là cách để con kịp thích nghi với nền giáo dục tại các nước phát triển. Tuy nhiên, tréo nghoe thay, cách thức dạy dỗ trẻ tại những đất nước này có phần đi ngược lại hoàn toàn khi hầu hết tập trung vào phát triển nhân cách trẻ một cách tự nhiên nhất như ca hát nhạc kịch, thể dục thể thao hoặc tham gia các câu lạc bộ chuyên môn ưa thích và tất cả đều chỉ gói gọn trong thời gian chính quy trên trường lớp. Quan trọng hơn, điều chúng cần nhất là khoảng thời gian dành cho gia đình, bạn bè và cho bản thân mình bởi những khoảnh khắc đời sống như vậy mới chính là hành trang lớn lên cùng trẻ, góp phần hình thành nhân cách và con người.

Mới gần đây chỉ thị cấm dạy thêm, học thêm từ năm học 2016-2017 tại thành phố Hồ Chí Minh đã gây hoang mang cho thầy cô và các bậc phụ huynh. Có thầy hiệu trưởng nước mắt ngắn dài vì lo khoản lương nghề giáo hằng tháng vốn đã còm cõi sẽ không đủ sống, có người cha người mẹ mếu máo sợ con mình không theo kịp chương trình học. Nhưng chẳng mấy đứa trẻ kêu ca, than khóc. Thế mới thấy rằng có lẽ hệ thống giáo dục này quả là lắm bi kịch khi được dựng lên vì lợi ích của người lớn. Cùng lúc đó, sáng sớm ngày khai giảng sau 41 năm giải phóng đất nước, hơn 1000 học sinh từ bậc tiểu học đến phổ thông tại Hà Tĩnh không đi học vì cha mẹ các em không có đủ tiền chi trả học phí cho con em mình sau mùa cá thất thu vì nước biển nhiễm độc.

Hoàng Giang
Blog VOA

Các em sẽ học gì?



Cả thế giới đang khai trường cho niên khóa 2016-17, tôi nhận được những hình ảnh học sinh tại các tỉnh Sơn La, Yên Bái và Lào Cai, Việt Nam trên đường đến trường ngày đầu tiên, trong một bài phóng sự trên báo Lao Ðộng. Nhìn cảnh các thầy, cô giáo và học trò vất vả leo núi, vượt sông, tới những ngôi trường nghèo nàn, ai cũng phải thương tâm, nhưng cũng vui mừng vì các cháu vẫn còn được đi học. Trong cùng thời gian đó, một ngàn học sinh các trường mầm non và tiểu học tại xã Kỳ Hà, tỉnh Hà Tĩnh phải nghỉ học, vì bố mẹ không có tiền đóng học phí và các khoản phí khác, cũng không đủ tiền mua sách vở. Cha mẹ các em sống bằng nghề làm muối và đánh cá, sau vụ biển nhiễm độc Formosa, tôm cá đánh về không ai mua, muối cũng không bán được vì người ta sợ chất độc.

Nhiều em ra đồng bắt cua, hoặc quanh quẩn ở nhà nhưng trong một thời gian ngắn, chắc các em học sinh xã Kỳ Hà sẽ phải được đến trường. Người Việt Nam không ai nỡ nhìn hàng ngàn trẻ em thất học chỉ vì tai họa do một công ty ngoại quốc gây ra. Cái quỹ 500 triệu Mỹ kim công ty Formosa có thể chia ra một khoản “khuyến học” hay không? Có người ta đã hỏi: “Phải chọn lựa, muốn có thép hay tôm cá?” Chắc không ai dám hỏi, “ Giờ muốn có thép, hay muốn đi học?”

Chắc chắn đồng bào mình sẽ chọn, phải cho con đi học. Nhìn cảnh các em học sinh ở Sơn La, Yên Bái hoặc Lào Cai ngồi xổm trên nền đất sân trường chờ nghe thầy, cô nói, cảnh các thầy cô và học trò lội sông nước đục ngầu, vịn nhau đi trên những con đường đèo đầy bùn trơn, chúng ta tin tưởng vào tương lai. Trẻ em phải được đi học. Dù nghèo, dù đói, vẫn phải học. Ðó là con đường tiến đến một tương lai tốt đẹp hơn, cho mỗi em cũng như cho cả dân tộc.

Nhưng các em sẽ được học cái gì? Các thầy cô sẽ dạy các em những thứ gì?

Từ ngàn năm trước, người Việt Nam vẫn đồng ý việc học trước hết là để đào luyện trẻ em “cho nên người.” Trẻ em học những quy tắc luân lý từ cha mẹ, khi tới trường được nghe nhắc lại: Thật thà, chăm chỉ, can đảm, trong sạch, lễ độ với người trên, nhân ái với tất cả mọi người khác, vân vân. Khi nhìn hình ảnh các em học sinh đến lớp ở Sơn La hay Lào Cai, hoặc những em chưa được đi học ở Hà Tĩnh, chúng ta có thể tin rằng khi tới trường các em đều được dạy làm sao sống nên người đàng hoàng tử tế. Nếu thầy, cô, vì bị bắt buộc, phải nói những lời sai sự thật, trái đạo lý, chắc cha mẹ các em cũng biết cách sửa lại và giải thích lại cho các em hiểu rằng họ bị bắt buộc phải nói như thế.

Ngày nay, khi bàn đến chương trình giáo dục, người ta thường chú trọng đến các mục tiêu kinh tế. Ðó là một mối quan tâm hữu lý. Hệ thống giáo dục phải đào tạo những người có thể kiếm được việc làm, chứ không phải cho sinh viên ra trường rồi không kiếm ra việc. Vì vậy, giáo dục cũng phải đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia.

Nói đến kinh tế, điều đầu tiên cần ghi nhớ là cả thế giới đã thay đổi và còn đang thay đổi với tốc độ nhanh hơn. Trước đây nửa thế kỷ, người ta vẫn nghĩ rằng các nước nghèo như nước ta phải tiến từ kinh tế nông nghiệp qua một thời kỳ công nghiệp hóa, rồi mới phát triển lãnh vực thứ ba là cung cấp các dịch vụ. Ðó là con đường các nước Tây Âu và Mỹ đã đi qua. Chương trình giáo dục các nước chưa mở mang thường được hoạch định cho phù hợp với quá trình phát triển đó.

Nhưng hiện nay quá trình phát triển đã thay đổi, vì các tiến bộ tin học khiến máy móc được tự động hóa ngày càng nhiều hơn. Vào những năm đầu thế kỷ 20, quá trình công nghiệp hóa ở Anh Quốc lên cao cực điểm, giới lao động trong công nghiệp chiếm tỷ lệ 43% của tổng số những người đi làm. Sau đó, tỷ lệ này bắt đầu giảm. Khi Trung Quốc bắt đầu đổi mới kinh tế, họ cũng dồn nỗ lực vào các công nghiệp nặng, theo gương Hàn Quốc và Nhật Bản. Nhưng bây giờ, đầu thế kỷ 21, Trung Quốc phải chuyển trọng tâm từ công nghiệp sang dịch vụ, như ông Tập Cận Bình đang hô hào. Các nước Ấn Ðộ, và Brazil cũng vậy, mặc dù tỷ lệ nhân dụng trong các ngành công nghiệp chỉ mới chiếm 15% tổng số lao động. Nếu không chuyển nhanh thì sẽ lỡ bước chân, không theo kịp các nước Tây phương trong thế kỷ này.

Kinh tế thế giới thay đổi, lúc đầu vì máy móc được sử dụng thay bàn tay lao động, nay càng thay đổi mạnh và nhanh hơn, vì các nhà máy được tự động hóa.

Chương trình giáo dục trước đây hơn nửa thế kỷ, thời 1950, thường chú trọng tới đào tạo chuyên viên, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa. Bây giờ, sau khi sinh viên ra trường năm, mười năm, một kỹ thuật chuyên môn có thể trở thành lỗi thời, vô dụng. Bao nhiêu máy móc bị thay thế bằng những hệ thống tự động hóa. Các chuyên gia phải đi học lại để thích ứng với thị trường nhân dụng luôn luôn thay đổi. Những người 50, 60 tuổi ở Mỹ không thể tưởng tượng con cái họ đang đến trường học cái gì, vì trước đây 30 năm chưa ai tưởng tượng được có những thứ kỹ năng hay nghề nghiệp đó!

Cho nên, khắp thế giới, các học sinh và sinh viên hiện nay đều biết trước rằng các em sẽ phải học, học lại, suốt đời! Trong hoàn cảnh đó, điều gì quan trọng nhất cần huấn luyện cho học sinh, sinh viên? Phải đào tạo một “khả năng toàn diện,” đáp ứng mọi hoàn cảnh. Ðó là khả năng tự học, sẵn sàng đi học trở lại, và học những cái mới. Chúng ta phải bắt đầu suy nghĩ về chương trình giáo dục nước ta theo chiều hướng đó. Nếu không, kinh tế sẽ tiếp tục chậm lụt theo đuôi người ta trong 30, 50 năm nữa.

Ðiều quan trọng là “khả năng toàn diện” này có thể được đào tạo ngay từ những lớp mầm non, từ bậc tiểu học. Phải khuyến khích trẻ em tự tìm tòi thay vì chờ thầy, cô lên lớp. Tập cho các em tự suy nghĩ, không sợ có sáng kiến táo bạo, không sợ phạm sai lầm rồi bị phạt. Hiện nay các nhà giáo ở nước ta chưa phải ai cũng có thói quen chấp nhận lối giáo dục này. Nhưng nếu họ yêu trẻ, nghĩ đến tương lai đất nước, thì họ có thể cố gắng tự mình thay đổi quan niệm dậy dỗ. Dậy trẻ không phải là truyền cho các em những gì mình biết; mà phải là tập cho các em đi tìm hiểu biết, cùng đi tìm với thầy giáo, cô giáo. Một bài toán thầy, cô biết đáp số rồi, nhưng vẫn yêu cầu các em đi tìm “cách giải,” chứ không phải chỉ tìm đáp số. Những em tìm ra đáp số sai nhưng có sáng kiến về cách giải đều được khích lệ.

Một đóng góp quan trọng của các thầy, cô giáo từ lớp mầm non lên tới trung, tiểu học, là đào tạo tánh khí cho trẻ. Nhưng đào tạo tánh khí đóng góp cho phát triển kinh tế hay không?

Ðóng góp rất nhiều. Có đầy chứng cớ. Các nhà nghiên cứu kinh tế đã chứng minh rằng sự thành công của mỗi cá nhân liên quan chặt chẽ với tánh khí, đến nỗi họ gọi tánh khí là một kỹ năng (character skill), không khác gì trí thông minh, được đo bằng chỉ số IQ. Một nước phát triển cần có rất nhiều người đi làm và thành công trong công việc.

James Heckman, giải Nobel Kinh tế học năm 2000, đã tìm thấy rằng điểm số của sinh viên ở Mỹ cao hay thấp có thể được tiên đoán bằng tánh chu đáo (conscientiousness) nhiều hay ít, không khác gì điểm thi trắc nghiệm SAT. Ông cho biết nhiều cuộc nghiên cứu chứng tỏ tánh khí, nói chung, báo trước một người sẽ thành công hay không, trong trường đại học, trong cuộc đời làm việc, cũng như cả sức khỏe, giá trị tiên đoán ngang với chỉ số thông minh IQ. Heckman nêu ra mấy đặc điểm của người có “kỹ năng tánh khí” như Tánh chu đáo, làm việc đến nơi đến chốn; Tánh tò mò, không sợ những điều mới, và tử tế thân thiện với mọi người.

Cả ba đức tính trên có thể học từ tuổi nhỏ, các lớp mẫu giáo có thể bắt đầu tập là vừa! Với những đức tính đó, các em lớn lên có thể đáp ứng với một cuộc sống kinh tế luôn luôn thay đổi.

Một công trình nghiên cứu của Paul Gertler và nhiều người khác, năm 2013, đã theo dõi một số trẻ em người Jamaica, trong khoảng thời gian 20 năm. Họ thấy những em từ 2 tuổi trở lên được săn sóc, khích lệ nhiều hơn khi lớn lên đã thành công hơn, mặc dù phải sống trong những khu nghèo nàn nhất. L. M. Gutman và I School, năm 2013, cho thấy những người có “kỹ năng tánh khí” làm việc hiệu quả hơn, tự tin mình có khả năng đạt mục đích hơn, và có khả năng tự cải thiện hơn. Kinh tế nước nào cũng cần rất nhiều người như vậy.

Những quy tắc đạo đức cổ truyền của dân tộc chúng ta bao gồm tất cả những thứ mà các nhà kinh tế trên gọi là “kỹ năng tánh khí.” Chúng ta có thể tin rằng những thầy cô giáo ở nước ta hay bất cứ nước nào, khi họ chọn nghề dạy học thì họ sẽ sinh lòng yêu trẻ. Nếu được trả lương đủ sống, họ có thể hy sinh chăm sóc việc giáo dục tánh khí cho trẻ. Những đứa trẻ lớn lên thành công trong nghề nghiệp càng nhiều, thì các em sẽ càng đóng góp nhiều hơn cho việc phát triển kinh tế.

Ba năm trước, vào Tết Giáp Ngọ tôi nhận được một email của một vị độc giả, tự giới thiệu là một sinh viên Ðại Học Việt Trì, anh viết: “…, tôi đã 20 tuổi, suốt mười mấy năm đi học,… tôi chỉ ước sao thầy cô tôi đừng nói dối, vì tôi có thể cảm nhận được sự dối trá từ trái tim tôi, tôi chỉ ước được gặp một người thầy đáng kính và làm cho tôi tin tưởng.” Hy vọng các học sinh Việt Nam bây giờ được gặp nhiều vị thầy, cô đáng kính, cho các em tin tưởng.

Ngô Nhân Dụng
Người Việt

Ghi chép một số nhận định về việc nghiên cứu và giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin tại Việt Nam


Mác – Lênin là người đã kích động giai cấp vô sản vùng lên, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành quyền thống trị về tay cộng sản. Nguồn: internet
Mới đây xuất hiện một câu chuyện thời sự nhưng lại liên quan một vấn đề có vẻ học thuật, không “thời sự” chút nào, đó là việc Đại học Fulbright Việt Nam do người Mỹ chủ trương sắp khai giảng nhưng họ còn chần chờ trước đòi hỏi của Nhà nước Việt Nam là theo Luật pháp Việt Nam thì phải giảng dạy Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sự kiện này làm tôi chợt nhớ lại câu chuyện tưởng chừng đã cũ: Tháng 6.2008 khi cố thủ tướng Võ Văn Kiệt qua đời thì chừng một tháng sau, nhà văn-nhà nghiên cứu Lữ Phương đã có bài viết để tưởng niệm người mà tác giả này coi là “một trong những người cộng sản chân chính còn sót lại trên đất nước hôm nay”.

Sau khi nhắc qua nhiều kỷ niệm xa xưa giữa tác giả với người quá cố, đến đoạn cuối bài, Lữ Phương kể lại buổi gặp gỡ thân tình và cuối cùng giữa hai người ở một hiệu ăn bên khu Thanh Đa (TP. HCM) trong suốt một buổi tối. Khi nhận được tập sách biếu (loại in vi tính không xuất bản chính thức) do Lữ Phương ghi tặng, ông Võ Văn Kiệt bỗng hỏi một câu ít khi nào ông hỏi: “Nghe nói Lữ Phương nghiên cứu nhiều về chủ nghĩa Mác phải không?”.

Rồi tác giả kể tiếp: “Mặt đã hơi bừng bừng một chút, tôi đã nói với ông những lời bỗ bã sau đây: “Anh Sáu [tức Sáu Dân/ Võ Văn Kiệt] biết tại sao tôi quan tâm đến chủ nghĩa Mác như vậy không? Đó là do tôi nghe lời mấy ông lãnh đạo Đảng, các ông này luôn khuyên nhủ cán bộ phải học tập chủ nghĩa Mác vì không hiểu chủ nghĩa Mác thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nghe lời mấy ông đó, tôi đã quay mặt vào tường trong suốt 10 năm để tìm hiểu; anh có biết sau đó tôi đã kết luận như thế nào không?”. Ông nhướng mắt lên và hỏi: “Sao?” Tôi nhớ đã trả lời ông một cách tỉnh queo câu sau đây: Tôi nói các cha nội đó chẳng biết Mác là con mẹ gì hết! Không tưởng tượng được! Sau khi nghe câu nói báng bổ đó của tôi, ông đã cười phá lên, thoải mái như chưa bao giờ thoải mái đến như vậy! Không biết có đúng hay không, nhưng những điều rất riêng tư mà ông không khi nào nói đến mỗi khi gặp tôi, dường như đã bộc lộ qua những tiếng cười của ông hôm đó. Đó là kỷ niệm cuối cùng tôi nhớ về ông để chỉ mấy tháng sau tôi nghe tin ông mất” (Lữ Phương, “Ông Võ Văn Kiệt và tôi”, in trong Ông Sáu Dân trong lòng dân, NXB Tri Thức, 2008, tr. 233).

Nghe kể xong đoạn trên đây, người đọc thật khó đoán ra một cách chắc chắn nhà lãnh đạo cách mạng nổi tiếng và tâm huyết thuộc thế hệ thứ hai Võ Văn Kiệt đã thật sự nghĩ gì về chủ nghĩa Mác-Lênin và đã vận dụng nó như thế nào trong quá trình lãnh đạo cách mạng cả thời chiến lẫn thời bình, nhưng qua câu chuyện cũng thấy được dường như ông đã có phần rất lớn đồng tình, chia sẻ với tác giả Lữ Phương, với nghĩa rằng tuy không học cao nhưng do đầu óc thực tế của con người thực hành nhiều hơn thuyết lý, ông Võ Văn Kiệt có lẽ cũng chưa từng nghiên cứu sâu về chủ nghĩa Mác-Lênin, ngoài một số bài học/kiến thức căn bản mà một người cán bộ cao cấp như ông bắt buộc phải thụ huấn qua nhiều lần tại các trường chuyên môn về lý luận chính trị, từ sơ cấp đến cao cấp. Hoặc giả, ông cũng đã nghe giảng không ít về chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng lại có những nét nhận thức rất riêng biệt và sáng tạo về thứ chủ nghĩa đã được du nhập chủ yếu từ bên Đức và bên Nga về, sau khi thông qua sự chú giải thêm của các lãnh tụ cách mạng hoặc cán bộ nghiên cứu chủ nghĩa/ triết học Mác-Lênin ở Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam.

Như chúng ta đều biết, bộ môn chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn đang tiếp tục được giảng dạy rộng rãi tại tất cả các trường lý luận chính trị dành cho cán bộ các ngành các cấp cũng như tại tất cả các trường cao đẳng-đại học dành cho sinh viên thường dân Việt Nam. Gồm 3 phân môn: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học.  Đây là môn học bắt buộc, tại các trường cao đẳng-đại học còn được gọi là môn “điểm danh” vì không cho phép sinh viên được vắng mặt. Thậm chí, học sinh-sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc… cũng phải học, nhưng được miễn học phí (theo Nghị định 49 của Chính phủ), mặc dù hầu như không bao giờ họ có dịp nào vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào nhã nhạc cung đình chẳng hạn.

Theo bước tiến của thời đại, bộ môn chủ nghĩa Mác-Lênin áp dụng cho các loại trường học Việt Nam gần đây đã có nhiều cải cách theo chiều hướng tiến bộ rõ rệt, nhưng thời của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt học lý luận (khoảng giữa thế kỷ XX) thì việc giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin đôi khi còn lơ mơ lắm. Tác giả Vũ Cao Đàm (Trường đại học KHXH & NV Hà Nội, Viện Chính sách và Quản lý) trong quyển sách mới xuất bản hồi năm ngoái, kể: Trong bài giảng về duy vật lịch sử, một vị “giáo sư” giảng “Chủ nghĩa đế quốc là CON DÊ của chủ nghĩa tư bản”. Thật ra là CON ĐẺ, nhưng vì tài liệu giảng dạy đánh máy chữ lúc đó không có dấu hỏi dấu ngã…, nên ông thầy lý luận đã nhận lầm CON ĐẺ thành CON DÊ. Cả lớp cười rộ lên thì ông tìm cách giảng gỡ gạt theo “nghĩa đùi”: đó là con dê hung hăng của nhà vua thời xưa đưa vua đến ăn dâu trước cửa các cung tần mỹ nữ, hễ dê đến trước cửa nhà cô nào thì đêm đó các cô được vua đến ban cho một đêm sủng ái. Hình tượng chủ nghĩa đế quốc là CON DÊ hung hăng của chủ nghĩa tư bản nghĩa là như thế!

Cũng theo Vũ Cao Đàm, ông V.I Lenin có lúc bị đọc nhầm thành ông Sáu Lenin trong lớp học chính trị ở cấp đại học (xem Nghịch lý và lối thoát, NXB Thế Giới, 2014, tr. 190-191).

Ở đây hoàn toàn không chút ý bêu riếu, chỉ cố nói lên sự thật để “ôn cố tri tân”, có lợi cho công việc chung về sau.

Có điều nghịch lý là, mặc dù bộ môn chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn được giảng dạy rộng rãi với cường độ mạnh, chiếm nhiều thì giờ, nhưng thực tế ngày càng ít ai hăng hái chú ý đến việc nghiên cứu sâu thêm về nó để “biến chủ nghĩa Mác-Lênin thành ý thức hệ chủ đạo trong xã hội”, như mấy chục năm về trước. Kết quả là không có một công trình nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin nào có chất lượng cao đáng kể được người ta nhớ tới, ngoài những bài viết đăng trên một số tạp chí như Thông báo triết học, Triết học (đều của Viện Triết học-Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam), Học tập (tiền thân của tạp chí Cộng Sản), Cộng Sản (Cơ quan lý luận và chính trị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam), Thông tin lý luận và truyền thông (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh & Học viện báo chí và tuyên truyền), Lý luận chính trị (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)… Trái lại, các nhà nghiên cứu lý luận ngày càng chú ý nhiều hơn đến những đề tài có giá trị thực tiễn gắn với các mặt hoạt động chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội trong nước. Câu khẩu hiệu “Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng muôn năm” trước đây được dán/ vẽ khắp nơi thì giờ đây ngày càng ít được trông thấy. Điều này không hoàn toàn có nghĩa chủ nghĩa Mác-Lênin đã mất đi giá trị cố hữu của nó, nhưng có lẽ đòi hỏi cần được nghiên cứu lại với một tinh thần mới mẻ và ít giáo điều hơn so với trước.

Bởi chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó một bộ phận quan trọng là triết học Mác với chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trước sau vẫn là một hệ thống triết lý có ý nghĩa, vai trò cũng như ảnh hưởng rất to lớn trong toàn bộ lịch sử triết học nhân loại và đã góp phần soi sáng nhận thức cho toàn thể loài người về mọi hiện tượng diễn ra trong sự vận động của cả giới tự nhiên lẫn xã hội. Đấu tranh giai cấp, dù người ta có chấp nhận hay không, thì nó vẫn diễn ra; cũng như chủ nghĩa cộng sản, dù người ta có thích hay không, thì chủ nghĩa cộng sản (hay tư tưởng cộng sản, phân biệt với chế độ cộng sản thực tế) vẫn là một thực thể đã tồn tại khách quan trong lịch sử, và nói như một nhà nghiên cứu nọ về chủ nghĩa Mác, ngày nay người ta không thể suy nghĩ như thể chưa bao giờ có những người cộng sản tồn tại trên thế giới này. Vì thế, nếu chịu nghiên cứu sâu chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt riêng về triết học Mác-Ăngghen, bằng tinh thần khách quan khoa học, thì bên trong hẳn còn lắm điều hay.

Tuy nhiên, vì môn triết học Mác có thời gian bị nghiên cứu và giảng dạy một cách giáo điều, một phần do ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc, nên đã bị tầm thường hóa và kém sức hấp dẫn, khiến cho có lần, vào năm 1988, GS triết học Lý Chánh Trung (dạy môn Triết tại các đại học ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975; sau 1975 là Phó chủ tịch Hội Trí thức Yêu nước, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam TP. HCM, Đại biểu Quốc hội ba khóa VI, VII, VIII) đã gọi môn học này bằng tên một bài viết đăng công khai trên tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật ngày 13.11.1988: “Về một môn học mà thầy không muốn dạy và trò không muốn học”.

Riêng bản thân tôi thì cũng có vài lần bày tỏ ý kiến thẳng thắn, công khai về việc nghiên cứu-giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin trên một số tờ báo hoặc tạp chí xuất bản trong nước hoàn toàn hợp pháp (thường dưới bút danh Trần Khuyết Nghi). Vì đến nay tôi chẳng những không thay đổi ý kiến mà còn ngày càng thêm xác tín, nên xin phép được chép lại nguyên văn vài đoạn đã nhận định.

Một đoạn viết hồi tháng 9.1988 (Trần Khuyết Nghi, “Cần biên soạn lại sách giáo khoa?”, báo Tuổi Trẻ, 22.9.1988, tr. 2): “Trước hết, phải điều chỉnh ngay những chỗ người ta ‘tầm thường hóa’ chủ nghĩa Mác, biến những ý tưởng trong sáng của chủ nghĩa Mác thành một học thuyết giáo điều. Ngay cả cuốn sách có tên là ‘Kinh tế chính trị học’ cũng chưa giúp cho người học giải thích rành rẽ các hiện tượng kinh tế, và người sinh viên được trang bị những kiến thức trong đó cũng không có khả năng hiểu và hoạt động kinh tế cho ra trò được”.

Hai tháng sau, khi bàn về mối quan hệ giữa triết học và chính trị, tôi lại viết: “Thay vì dùng triết học để soi sáng cho đường lối chính trị, có một hiện tượng không bình thường đã xảy ra ở các nước XHCN, trong đó có nước ta, đó là việc dùng chính trị để nghiên cứu và chi phối triết học. Từ chủ nghĩa duy ý chí (hay từ những đòi hỏi chính trị), người ta đã có những giải thích lệch lạc tầm thường hóa chủ nghĩa Mác, biến nó thành một học thuyết giáo điều, rồi trên cơ sở chủ nghĩa Mác đã giáo điều hóa, xây dựng nên một hệ thống các tư tưởng chính trị (thể hiện trong một số đường lối, chính sách, các định thức chính trị-xã hội…) để đến lượt chính hệ thống này chi phối lại việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác (…). Sự thật thì ở nước ta (cũng như ở nhiều nước XHCN khác), chỉ có những người học triết, giảng triết chứ không có triết gia… Rõ ràng chúng ta chưa có một công trình triết học nào đáng kể (kể cả về triết học Mác-Lênin), một công trình dùng dẫn chứng cho những công trình khác, được nhân dân và giới trí thức lưu ý. Rốt cuộc, các ‘nhà triết học’ của ta đành phải dẫn chứng lời nói của các lãnh tụ hoặc nghị quyết chính trị, thay vì phải làm ngược lại. Việc nghiên cứu triết học lại chỉ do các công chức thực hiện nên không thể có tự do tư tưởng, điều kiện số một của tư duy triết học và điều này quả là trái với truyền thống triết học thế giới. Ngay như Mác, Ăngghen, Lênin cũng không bao giờ lãnh lương để nghiên cứu triết học!” (Trần Khuyết Nghi, “Triết học và chính trị”, báo Tuổi Trẻ, 29.11.1988).

Lại bốn năm sau, tiếp tục cảm tình với chủ nghĩa Mác, tôi lại cố biện minh: “Lý tưởng thiết lập một xã hội công bằng (đã có từ thời cổ đại Hi Lạp, La Mã, Trung Quốc và sau này phát triển ở Tây phương với các đại biểu xuất sắc như Saint-Simon và Fourier ở Pháp, Owen ở Anh, thế kỷ XVIII) được sự phân tích khoa học của Marx (tập trung trong bộ Tư bản, 1866) đã tìm được cơ sở lý luận để đi vào thực hiện bằng hành động cách mạng của giai cấp vô sản. Theo Marx, chủ nghĩa tư bản với sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã bóc lột công nhân bằng giá trị thặng dư, cùng với sự cạnh tranh tự do giữa các nhà tư bản, đã tạo ra trong bản thân nó những mâu thuẫn và không tránh khỏi sụp đổ, bằng sự thắng lợi của giai cấp công nhân, chế độ công hữu tài sản và một tổ chức xã hội không giai cấp trong đó vai trò của nhà nước sẽ dần dần bớt quan trọng đi.

Tuy nhiên, một số dự đoán của Marx theo lô-gích lịch sử được rút ra từ sự phân tích chủ nghĩa tư bản và tình trạng cùng khốn của tầng lớp công nhân nước Anh vào thế kỷ XIX (lúc đó, nước Anh là một nước tập trung đầy đủ mọi yếu tố của xã hội tư bản) đã tỏ ra không hoàn toàn phù hợp với thực tế của thế kỷ sau đó.

Cho đến bây giờ, không ai trên thế giới lại không cảm phục thiên tài và nhiệt tâm của Marx, cũng như vai trò tư tưởng của ông trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, nhưng có lẽ Marx sẽ ngạc nhiên nhiều nếu giả định ông được trông thấy những giới hạn tiêu cực đã xảy ra trong một số mô hình XHCN đã có trong thực tế mấy chục năm qua. Điều đó buộc ta phải nghĩ rằng trong sự thành lập học thuyết của mình, và chỉ ra lô-gích phát triển của xã hội tư bản, Marx ít nhiều đã chịu sự chi phối của một lương thức được hướng dẫn bởi lòng tốt, tình cảm chia sẻ với nỗi thống khổ của nhân sinh, sự phẫn nộ đối với áp bức bất công và nhiệt tình say sưa với lý tưởng công bằng xã hội” (Trần Khuyết Nghi, “Từ Adam Smith đến Marx, thử suy nghĩ về vấn đề quyền sở hữu và phát triển kinh tế”, tạp chí Phát Triển Kinh Tế, số 22, tháng 8.1992, tr. 6).

Trên kia nói bị ảnh hưởng bởi Liên Xô và Trung Quốc, vì có một thời tại những nơi này, chủ nghĩa giáo điều đã ngự trị một cách hầu như triệt để trong hoạt động nghiên cứu-giảng dạy không chỉ về triết học Mác-Lênin mà còn cả trong mọi bộ môn khoa học khác, từ tự nhiên đến xã hội. Như trong một giáo trình về Thổ nhưỡng học giảng dạy sau năm 1975, sinh viên ngành nông nghiệp Việt Nam phải học bài mở đầu là “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về độ phì đất đai”, thì nghe cũng hơi lạ!

Khi dẫn “tài liệu tham khảo” cho mọi công trình nghiên cứu thuộc bất cứ ngành khoa học gì, những cuốn sách được kê ra hàng đầu luôn luôn phải là loại sách kinh điển (Mác-Lênin), kế đến là sách viết, bài viết hoặc diễn văn của các nhà lãnh tụ chính trị…

Theo Từ điển Triết học do một nhóm nhà nghiên cứu triết học Liên Xô biên soạn (NXB Sự Thật, Hà Nội, 1960) thì: “Chủ nghĩa duy vật biện chứng là phương pháp duy nhất có giá trị của các khoa học hiện đại, là lý luận duy nhất khoa học để giải thích và cải tạo tự nhiên và xã hội” (tr. 828).

Còn ở Trung Quốc, tình trạng lúc đó còn có thể tệ hại hơn, đặc biệt trong thời kỳ Đại cách mạng văn hóa (1966-1976) do Mao Trạch Đông chủ xướng, thúc đẩy.

Như chúng ta đều biết, trong suốt thời kỳ Mao Trạch Đông cầm quyền, lời nói của Mao luôn được coi là thiên kinh địa nghĩa. Việc gì của Mao làm cũng được ca tụng, thành công gì trong các hoạt động khoa học, chính trị, văn hóa… cũng đều quy công cho tư tưởng chỉ đạo anh minh của Mao. Các sách khoa học tự nhiên thời đó từ y học, thực vật học cho đến địa chất học… đều phải tôn Mao làm chủ soái. Chẳng hạn, trong lời nói đầu sách Mao Chủ tịch ngữ lục nhân dịp sách tái bản năm 1966 (mà ai cũng phải thủ sẵn một cuốn dùng làm cẩm nang, kim chỉ nam), Lâm Bưu (lúc đó còn thân thiện với Mao) đã không ngần ngại viết, với mấy đoạn đầu xin lược dịch như sau: “Đồng chí Mao Trạch Đông là một nhà Mácxit-Lêninnit vĩ đại nhất hiện nay. Đồng chí là người đã kế thừa, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin một cách thiên tài, sáng tạo, toàn diện, nâng chủ nghĩa Mác-Lênin đến một giai đoạn hoàn toàn mới mẻ (…). Tư tưởng Mao Trạch Đông là vũ khí tư tưởng lớn mạnh chống chủ nghĩa đế quốc, là vũ khí tư tưởng lớn mạnh chống chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa giáo điều. Tư tưởng Mao Trạch Đông là phương châm chỉ đạo hết thảy mọi công tác của toàn Đảng, toàn quân và toàn quốc. Vì vậy, mãi mãi giương cao ngọn cờ đỏ vĩ đại tư tưởng Mao Trạch Đông, dùng tư tưởng Mao Trạch Đông vũ trang cho trí não của nhân dân toàn quốc, kiên trì lấy tư tưởng Mao Trạch Động làm thống soái trong mọi công tác, đó là nhiệm vụ tối căn bản trong công tác chính trị tư tưởng của Đảng ta. Quảng đại quần chúng công nông binh, quảng đại cán bộ cách mạng và quảng đại phần tử trí thức, đều cần phải học tập tư tưởng Mao Trạch Đông đến nơi đến chốn, thực hiện người người đọc sách Mao Chủ tịch, nghe lời dạy Mao Chủ tịch, làm việc chiếu theo chỉ thị của Mao Chủ tịch, làm người chiến sĩ tốt của Mao Chủ tịch…”.

Do ảnh hưởng nặng nề của bệnh giáo điều từ Liên Xô, Trung Quốc một thời như thế, ngày nay việc nghiên cứu-giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung và triết học Mác nói riêng nhất thiết và cấp bách cần phải được xem xét lại để cải tổ.

Đã có một số ý kiến phát biểu công khai liên quan việc hệ trọng nêu trên nhưng còn ít, vì nhiều lý do rất ngoắt ngoéo, tế nhị, nhưng chủ yếu là vì không có tự do ngôn luận.

Theo PGS Đào Công Tiến (nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP. HCM), về các vấn đề lý luận chung, nên coi trọng thực tiễn cuộc sống hơn lý luận giáo điều, từ đó ông cho rằng tư tưởng học thuyết Mác-Lênin đi vào cuộc sống với mô hình XHCN tại Việt Nam và vài nơi khác không suôn sẻ, không tránh được những sai lầm phải trả giá và cuối cùng không ngăn được khủng hoảng sụp đổ, bởi nó có sự bất cập tự thân từ “gốc” của tư tưởng, học thuyết, rồi sau đó lại chỉ rập khuôn mà không được phát triển theo hướng “kế thừa, cải biên và sáng tạo”. Ông mạnh dạn nêu rõ: “Không chỉ có “bệnh giáo điều” đã làm cho học thuyết Mác-Lênin xơ cứng không phát triển, mà còn vì phương pháp tư duy chủ quan duy ý chí, “tả khuynh” đã dẫn đến những “giáo điều phản Mác” làm cho tư tưởng học thuyết bị “méo mó”, nhất là trong việc chọn lựa và thực thi mô hình XHCN ở Liên Xô cũ và nhiều nước XHCN khác. Khuyết tật của mô hình XHCN nầy đã được nói đến trên nhiều khía cạnh trong những nghiên cứu gần đây, nhưng tiêu biểu thì có hai mảng lớn: (1) chọn nhà nước chuyên chính vô sản đặt lên mọi hoạt động của đời sống xã hội mà không cần biết trạng thái dân tộc của xã hội công dân ở đó ra sao; (2) chọn quan hệ sản xuất với đặc trưng tuyệt đối hóa công hữu về tư liệu sản xuất, kế hoạch hóa tập trung và bao cấp đặt lên nền kinh tế, mà không cần biết đến trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế đó như thế nào. Với những khuyết tật đó, mô hình XHCN đi vào cuộc sống không suôn sẻ, nhưng bằng mọi giá phải áp đặt cho được, cả bằng tư tưởng, tổ chức thậm chí trấn áp bằng bạo lực. Cải cách ruộng đất, hợp tác hóa kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông trường quốc doanh không tạo được hiệu quả trong hoạt động, cải tạo kinh tế tư nhân trong công thương nghiệp, phân phối bình quân và bao cấp ở Việt Nam vào những thập niên 60, 70 và đầu 80 của thế kỷ trước với nhiều thất bại kèm theo là những minh chứng cho các cách làm vừa kể” (xem Đào Công Tiến, “Sòng phẳng với lý luận”, Tư duy phát triển, NXB Thời Đại, 2012, tr. 16-17).

Trên thực tế, bỏ qua thời kỳ đầu du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, từ khoảng những năm 20 của thế kỷ trước, nếu chỉ tính từ năm 1954, Việt Nam đã áp dụng chủ nghĩa Mác-Lênin được hơn 60 năm. Để biết hiệu quả sự áp dụng chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung và triết học Mác nói riêng vào thực tiễn đời sống cũng như vào các hoạt động nghiên cứu học thuật phục vụ hòa bình (không kể những hoạt động phục vụ chiến tranh và chiến đấu cũ trước đây nhờ dựa trên lý luận cường điệu về mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp…), các nhà nghiên cứu thuộc thế hệ trẻ tiến bộ ngày nay cần có một cuộc phân tích lại đầy đủ và có tính thuyết phục để kiểm chứng cụ thể những công trình nghiên cứu hay sự nghiệp đời sống nào nhờ vận dụng tốt chủ nghĩa Mác-Lênin mà thành công, cũng như vì vận dụng nó sai lạc mà thất bại, để chứng minh tính hấp dẫn của nó, nhất là tính có phù hợp hay không của nó đối với đặc điểm dân tộc, từ đó phát huy tác dụng nếu phù hợp, và cải thiện phương thức nghiên cứu-giảng dạy, song song với việc nghiên cứu-giảng dạy bình đẳng với những trào lưu triết học khác đã xuất hiện trong lịch sử. Đó có lẽ là cách tốt nhất để bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sòng phẳng nhưng hiệu quả, thay cho cách áp đặt bằng những khẩu hiệu rất kêu nhưng tầm thường và trống rỗng.

Cho đến hiện nay, như tất cả mọi người đều biết, môn học Mác-Lênin vẫn tiếp tục được coi là bộ môn bắt buộc ở hầu hết (nếu không muốn nói tất cả) các trường cao đẳng-đại học, mà hỏi ra thì gần 100% sinh viên đều cho biết họ phải học nó một cách hết sức trầy trật vất vả, chán nản, theo kiểu ê a thuộc lòng, như để “trả nợ quỷ thần” cho qua các kỳ thi ở cấp cao đẳng-đại học, để kiếm mảnh bằng câu cơm, hoặc tham vọng hơn và một cách có ý thức hơn là để được thăng tiến trên con đường chính trị trong chế độ “lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng”, làm bậc thang cho việc thực hiện lý tưởng phụng thờ chủ nghĩa vật chất. Kết quả thật éo le và buồn cười: sau khi được trang bị chủ nghĩa Mác-Lênin bằng cách giảng dạy-hấp thụ cũ kỹ như từ trước, thực tế đầu óc các em sinh viên chẳng những không vỡ vạc ra điều gì mới mẻ về thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp làm việc…, trái lại còn trở thành những kẻ nô lệ đáng tội nghiệp, từ đó thui chột hết tinh thần phê phán và óc sáng tạo (vốn là linh hồn của chủ nghĩa Mác đích thực), đâm ra chán ghét không chỉ triết học Mác-Lênin mà còn chẳng thiết gì đến mọi hoạt động tư tưởng hay tư duy triết học khách quan và tự do nữa.

Thực tế cho thấy, vẫn chưa hết một số ít người hiện nay ở nước ta đề cao chủ nghĩa Mác-Lênin như một thứ vũ khí sắc bén vô địch, độc tôn duy nhất, cho phép giải quyết tốt mọi vấn đề chính trị-kinh tế-văn hóa-văn học-giáo dục-xã hội…, mà không chịu khách quan xem xét lại chủ nghĩa đó trên cơ sở thực tế những điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại mới, nhưng khi phát biểu ra niềm tin như thế thì vì nhiều lý do khác nhau, dường như họ chỉ làm bộ tin vậy thôi chứ không phải thật lòng tin tưởng!

Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh là triết học Mác không phải vì những lý do bị chính trị hóa/ bị lợi dụng như nêu trên mà mất đi giá trị thật, cố hữu của nó. Trước sau nó vẫn còn là một hệ thống tư tưởng lớn đáng được nghiên cứu, tham khảo, giảng dạy một cách nghiêm túc với tinh thần mới mẻ và khách quan hơn. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện cả CNXH lẫn chủ nghĩa tư bản thế giới mãi cho đến hôm nay vẫn vấp phải nhiều chuyện trục trặc, biểu hiện rõ nét qua các cuộc khủng hoảng tài chính và khủng hoảng môi sinh toàn cầu; cũng như cho đến khi nào hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng tăng giữa các nước và trong mỗi nước vẫn chưa khắc phục được để đem lại sự công bằng và nền hòa bình cho nhân loại, thì tiếng nói của Mác-Ăngghen chứa đựng trong các sách kinh điển của các ông vẫn còn là tiếng kêu lớn vang vọng lâu dài để tiếp tục cảnh tỉnh và lay động lương tri con người.

Trên đây, chúng tôi gần như không đưa ra được thêm bất kỳ ý kiến nào mới, ngoài việc “bút ký” lại nguyên văn những gì đã được phát biểu công khai trên sách báo xuất bản chính thức và hợp pháp trong nước, kèm theo vài nhận xét thô thiển nhưng chân thành dựa trên thực tế sinh động của cuộc sống, cốt chỉ để rộng đường tham khảo về việc nghiên cứu-giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin tại Việt Nam, với hi vọng sẽ có được sự cải tổ căn bản và thích hợp trong một tương lai không xa. Ít nhất/ trước nhất cũng để cho sinh viên Việt Nam tại các trường cao đẳng-đại học đỡ khổ, mà có điều kiện tập trung lo trau dồi những loại kiến thức khác bổ ích hơn vừa cho bản thân các em, vừa cho cả toàn xã hội.

Bản thân chúng tôi biết chắc trước về mặt lý luận không thể nào hiểu biết hơn được các vị đang công tác trong ngành tuyên huấn hoặc trong Hội đồng Lý luận trung ương, vì thiếu tính chuyên nghiệp, cũng chưa có thì giờ đọc hết các bộ “toàn tập” (như nhà nghiên cứu Lữ Phương…), nên nếu được các vị phản biện thẳng thắn chỉ ra cho thấy những điều sơ sót, bất cập thì thật là vạn hạnh.   

30.3.2015 (Chỉnh sửa-bổ sung 1.9.2016)

Trần Văn Chánh
Viet-studies

Làm sao ngăn được đà suy thoái về văn hóa?


Văn hóa chen lấn, xô đẩy của giới trẻ hiện nay. Nguồn: internet
Văn hóa đã bắt đầu suy thoái từ rất lâu

Tôi nhớ đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, khi miền Bắc đang “vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”, người dân Tràng An đã than phiền về nạn càn quấy của đám trai trẻ mặc quần ống tuýp, để tóc dài khiến các quý thanh niên “Cờ đỏ” đông nhan nhản ở Bờ Hồ phải thủ sẵn kéo lăm le cắt ống quần, cắt tóc dài để dạy chúng bài học vỡ lòng về … phép ứng xử văn hóa (!).

Tôi nhớ cũng vào những năm đó, nhà văn Nguyễn Khải kể chuyện có lần ông đi xem phim ở rạp Bắc Đô, Hàng Giấy. Khi đèn đã tắt, phim đã bắt đầu chiếu, thấy mấy cậu choai choai ngồi hàng phía trên nói chuyện rào rào, phì phèo thuốc lá, ông bèn khẽ khàng nhắc nhở: “Các cháu tắt thuốc đi nhé!”. Bất ngờ ông nghe thấy giọng nạt nộ: “Này thằng già, liệu mà câm mồm đi!”, và các mẩu thuốc cháy dở tới tấp bay vào người ông. Không một ai lên tiếng bênh vực ông. Ông đành phải câm mồm thật, nếu không muốn bị khủng bố tiếp. Nhà văn ngậm ngùi đúc kết: “Thời nay, cái Thiện đã chịu thua cái Ác!”.

Thời ấy người ta cũng đã từng đâm chém nhau vì va chạm … xe đạp. Các vị cán bộ nhà nước mặc đại cán nghiêm chỉnh cũng đã từng không kiêng dè, to tiếng cãi vã so bì nhau từ lạng chè, bao thuốc đến chiếc vành, chiếc lốp hay chục cái nan hoa mua theo sổ căng-tin cơ quan, chưa nói đến cuộc “đại chiến” vì phiếu mua xe đạp phân phối hay những căn phòng nhà tập thể không khép kín…

Thời ấy đã lan truyền trong dân gian câu khái quát về mối quan hệ người – người còn đúng tới tận giờ: “Nhất thân, nhì thế, tam chế (chế độ), tứ tiêu (tiêu chuẩn), ngũ liều, lục đả (cùng lắm thì dở nắm đấm!)”. Hay câu vè khá thật thà nôm na: “Tiền là tiên là phật / Là sức bật tuổi trẻ / Là sức khỏe tuổi già / Là cái đà tiến thân / Là cán cân công lý / Tiền là hết ý!”.

Vài dòng gọi là “ôn nghèo gợi khổ“, hoài niệm thời bao cấp để cùng nhau từ bỏ ảo tưởng: Khi chia đều sự nghèo túng, chúng ta có thể xây dựng được một nền văn hóa đầy ắp tình người. Và đành phải thừa nhận rằng văn hóa chúng ta thực ra đã có dấu hiệu suy thoái từ rất lâu.


***

Thực trạng suy thoái văn hóa hiện nay

Không phải tôi không nhìn thấy những “việc tử tế” trong đời sống chúng ta hiện nay: những tấm gương làm việc hiệu quả, bất chấp hiểm nguy để kiềm chế tội phạm, vượt khó khăn cứu chữa bệnh hiểm nghèo, vật vã mang con chữ lên vùng cao, nhường cơm sẻ áo với người bất hạnh… Tôi vẫn tin trước sau gì thì cái tốt, cái đẹp cũng sẽ trở thành nét chủ đạo trong cuộc sống. Nhưng để sớm đạt tới điều mong muốn đó, chúng ta không thể ru ngủ nhau bằng những lời khen. Hãy đừng vội hài lòng mà cùng hướng sự chú ý đến những mặt tối, dần loại bỏ cái xấu để tự hoàn thiện.

Từ mấy thập niên gần đây, không ai không cảm thấy văn hóa – tôi muốn nói đến văn hóa đạo đức xã hội – đang mỗi năm lại càng thêm lao dốc, chưa hề thấy có điểm dừng. Nhiều người thường nhắc đến những thói xấu dễ nhận thấy ở người Việt như thói ham chuộng hư danh, thói say mê bia rượu, ăn nhậu đánh chén; thói liệt dây thần kinh xấu hổ khi chen lấn xô đẩy nhau, tranh tài lộc, giành nhau miếng ăn; thói quen bắt chước đua đòi, “con gà tức nhau tiếng gáy”… Những nhận xét “bắt bệnh” này đều đúng.

Tuy nhiên, dưới góc nhìn của tôi, xin mạo muội tạm nêu ra 4 biểu hiện, theo tôi là rõ rệt hơn cả của tình trạng suy thoái trên. Đó là: Đồng tiền bất chính; Bạo lực lên ngôi; Giả dối thắng thế; Con người vô cảm.

Đồng tiền bất chính. Đồng tiền không có gì xấu. Bản thân nó là một thành tựu lớn của văn minh nhân loại. Nhưng kiếm tiền bằng cách giẫm đạp lên lợi ích của cộng đồng mới thực sự là đáng chê trách.

Sống chết mặc bay; tiền thầy bỏ túi”. Lời nhận xét sỗ sàng này đã trở thành phương châm ứng xử của vô số người trong xã hội. Người nuôi heo sẵn sàng tiêm thuốc mê, bơm nước lã để tăng trọng lượng con vật khi bán để kiếm thêm lợi nhuận, bất chấp tác hại. Người nông dân vốn hiền lành bỗng biết dành riêng cho mình khoảnh vườn chè, vườn rau sạch, còn rau bẩn, chè bẩn thì để bán cho các bạn được gọi là “công nông liên minh”(!). Hàng giả, hàng lậu, hàng nhái mặc sức tung hoành; không hải quan, biên phòng nào bắt giữ hết được. Một cơ quan nhà nước ở Tổng cục Thủy sản thu bộn tiền do ngang nhiên bán khống hàng trăm giấy chứng nhận (với giá 5 triệu đồng/cái) kiểm định vật tư ngư nghiệp đạt chuẩn. Nhà giáo, thầy thuốc vốn là nghề cao quý được trọng vọng ngày xưa, nay cũng không nhiều người tránh được sự cám dỗ của đồng tiền. Muốn học bạ có điểm cao ư? Không học thêm lớp của các thầy cô trong trường thì đừng có mơ. Muốn cấp cứu ư? Nộp đủ tiền chưa mà muốn vào phòng mổ?

Tệ hại nhất về kiếm tiền bất chính không ai khác ngoài đám quan chuyên nghề “cướp ngày” (“Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”). Cơ hội chui vào Đảng, lý lịch man khai, bằng thật học giả, bỏ vốn ra mua chức, có ghế cao rồi dễ dàng hoàn vốn và thu về lãi khủng.

Không khó biết tham nhũng cụ thể là ai. Nhưng hầu như không mấy ai đủ dũng cảm “vào hang bắt cọp”, để đến nỗi vị quan khả kính nguyên Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh đưa ra nhận xét để đời: “Tham nhũng vẫn ổn định !”.

Từ năm 1999, Hội nghị TƯ 6 (lần 2, khóa VIII) đã ra Nghị quyết về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Gần 15 năm sau, Hội nghị TƯ 4 (khóa XI, năm 2012) lại tiếp tục thông qua Nghị quyết cùng về vấn đề trên, thừa nhận tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức lối sống trong Đảng vẫn không thuyên giảm, nếu không nói là còn nghiêm trọng hơn, “đe dọa đến sự tồn vong của chế độ”. “Người ta ăn của dân không từ một thứ gì” (lời nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan). Từ một vài con sâu, tham nhũng đã phát triển thành “cả bầy sâu”! (chữ dùng của nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang).

Khi một “bộ phận không nhỏ” các quan “phụ mẫu”, những người được cho là “tinh hoa” dân tộc, là thành viên của “đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân ưu tú nhất” lại đồng thời là kẻ cắp theo nghĩa đen thì quả thật văn hóa đạo đức xã hội đã tụt xuống đáy. Cha ông ta đã dạy: “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Tham nhũng là cội nguồn của các bất công, khiến lòng dân không yên. Tham nhũng cũng mở đường cho các suy thoái văn hóa đạo đức ở các tầng lớp khác trong xã hội, trước hết là các thanh niên, khi lớp trẻ mới vào đời thấy các bậc cha chú “đầu têu” hành xử bất chấp đạo đức và pháp luật.

Bạo lực lên ngôi. Có thể là từ trong vô thức, từ tuổi vị thành niên, nhiều người trong chúng ta đã bị ám ảnh bởi các ý tưởng cao siêu, đại loại như: “Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội”; “Đấu tranh giai cấp song hành cùng bạo lực cách mạng”. “Họng súng đẻ ra chính quyền”. “Đấu tranh ôn hòa, bất bạo động là cải lương, là thiếu tinh thần cách mạng triệt để”… Bạo lực tất nhiên khó tránh đổ máu cho cả hai phe. Khi lòng hận thù được nuôi dưỡng, từ “bạo lực cách mạng” đến bạo lực trong đời thường chỉ còn cách vài bước chân… Vô hình trung bạo lực đã được tôn vinh!

Không biết từ bao giờ không ít người Việt Nam chúng ta trở nên hung hãn, gương mặt bặm trợn, lúc nào cũng sẵn sàng nói chuyện bằng dao kiếm. Xe máy va chạm ngoài phố – thay vì ôn tồn xin lỗi nhau rồi đường ai nấy đi, người ta sẵn sàng hùng hổ lao vào giành phần đúng, rồi rút dao, rút kiếm đâm chém nhau. To tiếng khi ăn nhậu, bị coi là “nhìn đểu” – đều có thể đổ máu. Vợ chồng con cái xích mích – ai đó có thể bị tưới xăng đốt. Bảo mẫu túm ngược chân trẻ mười mấy tháng tuổi dúng đầu vào sô nước vì mắc tội … chậm ăn cháo. Cô giáo thẳng tay tát học sinh, bắt học sinh liếm ghế. Nữ sinh xúm vào túm tóc đánh bạn vì những chuyện không đâu…

Đáng lưu tâm nhất là bạo lực không còn hiếm ngay cả với những người được giao nhiệm vụ bảo vệ pháp luật mà Nội quy treo trong phòng làm việc ghi rõ “phải kính trọng, lễ phép với dân”. Bao nhiêu người dân, kể cả trẻ vị thành niên, đang khỏe mạnh, sau khi bị tạm giam, đã bất ngờ trở về với tổ tiên (nhiều người vì lý do “chán đời thắt cổ tự vẫn” ở tư thế ngồi?), hoặc may mắn hơn, thì chỉ bị tàn tật.

Nhiều người xuống đường tham gia tụ tập ôn hòa với các biểu ngữ bảo vệ môi trường sống, bảo vệ chủ quyền biển đảo toàn vẹn đã bị các quý anh mặc trang phục “Thanh niên xung phong” (?) lao vào đấm đá không thương tiếc, không kiêng dè đối với cả phụ nữ và trẻ em vì lý do khó tin là họ đã bị “thế lực thù địch” chưa được phát hiện nào đó “kích động gây rối” (?). Đó quả thật là một hình ảnh không thể xấu hơn trước con mắt của bạn bè quốc tế khi đến thăm Thành phố “Vì hòa bình”!

Bạo lực đẻ ra bạo lực. Chẳng còn mấy người ngạc nhiên khi súng đã nổ, đồng chí đã bắn vào đồng chí ngay trong trụ sở của một Văn phòng Tỉnh ủy…

Giả dối thắng thế. Có lẽ đối với không ít người, giả dối là cách đỡ hao tâm tổn trí nhất để đạt được điều mình muốn. Dốt nát, sợ điểm kém ư? Đã có thể quay cóp bài của bạn hay dấu mang vào phòng thi đủ loại phao bé bằng hai ngón tay. Chưa học hành tử tế để đạt bằng cấp cao ư? Thì đã có vô số trường dởm, thầy dởm, người sẵn sàng thi hộ, viết hộ luận án giúp anh dễ dàng có được tấm bằng để rồi bắt đầu cuộc hành trình leo lên chức này chức nọ. Thích được huân chương hay có danh hiệu anh hùng để lòe thiên hạ ư? Có thể bịa ra các chiến tích để đạt được điều này. Muốn địa phương mình có thành tích vượt trội – nào là mức tăng trưởng kinh tế hai con số, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiêp cao chót vót, nhiều vùng đạt danh hiệu “Nông thôn mới “, số “Gia đình văn hóa” chiếm quá 90%… từ đó để cái gọi là “tài năng lãnh đạo” của mình được cấp trên thừa nhận, cá nhân mình dễ bề tiếp tục leo cao – cách dễ nhất là chỉ đạo thuộc cấp bịa đặt ra các con số đẹp như ý, sẵn sàng vay nợ đầm đìa để đạt bề ngoài phồn vinh. (Xin mở ngoặc nói thêm: Người ta thường phê phán căn bệnh “chạy theo thành tích”; nhưng thử hỏi: Nếu không bày ra chuyện “Thi đua khen thưởng” với cả bộ máy rình rang từ trên xuống dưới thì còn ai phải “chạy theo thành tích”?).

Trong cuốn “Đagestan của tôi” Rasul Gamzatov đã tưởng tượng ra cuộc đua chinh phục lòng người giữa Giả dối và Sự thật. Và không bất ngờ, Giả dối đã giành phần thắng vì thường hay làm mọi người thấy “dễ chịu thoải mái” dù biết là đang lừa nhau, còn Sự thật chịu thua vì khiến người ta “đau đớn lo âu”! Tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật” những năm đầu Đổi mới có vẻ đã mai một khá nhiều.

Dù thế nào thì người ta vẫn hay nhắc nhau: “Nói thật mất lòng” và nhấn mạnh rằng “thuốc đắng” mới “dã tật”. Một xã hội đề cao Sự thật mới mong được phát triển bền vững. Dối trá trước sau gì cũng dẫn tới đổ bể.

Con người vô cảm. Một người ngã xe bên đường, nằm bất động, nhiều xe đi qua không dừng lại cứu giúp, coi như không thấy. Một chiếc xe khách không may lăn xuống vực, nhiều người lần xuống theo; thay vì cứu chữa người bị nạn thì lại thản nhiên lần mò lấy cắp hành lý, tư trang. Một lái xe taxi đang tâm đẩy nữ hành khách bị vỡ ối xuống vệ đường khi bệnh viện đã ở ngay trước mặt. Một bọn gọi là bảo vệ bệnh viện, để bảo kê cho xe cứu thương của mình, “quyết liệt” ngăn cản xe gia đình thuê đưa đứa bé đang hấp hối thở ôxy trở về nhà. Không hiếm các điều tra viên muốn lập thành tích phá án nhanh đã sẵn sàng dùng nhục hình, bức cung ép người dân lành phải nhận tội, chịu ngồi tù oan hàng chục năm trời, gia đình tan nát. Chỉ cần các điều tra viên, các vị giữ quyền công tố, các thẩm phán cầm cán cân công lý có chút tình thương với bị cáo thì họ sẽ động lòng, thoát khỏi trạng thái vô cảm, và thấy ngay những bất cập trong hồ sơ để rồi hủy án.

Cái vô cảm đáng sợ nhất là vô cảm trước tình cảnh hiểm nghèo của Đất nước. Người ta đua nhau quên hết sự đời, say sưa theo bắt con vật ảo Pokemon. Số đông hình như vẫn “bình chân như vại” không nhìn thấy trước mắt mối nguy lù lù như trái núi: Nợ trong nước, nợ ngoài nước tăng cao, mới nứt mắt chào đời đã mang nợ hàng chục triệu đồng; nợ xấu, nợ công sắp vượt ngưỡng an toàn; thu không đủ chi, bội chi ngân sách năm sau cao hơn năm trước; nhiều dự án lỗ hàng ngàn tỷ đồng đắp chiếu; nhiều dự án hàng ngàn tỷ đồng khác được vẽ ra đang chờ duyệt để xây … tượng đài, xây trung tâm hành chính hoành tráng trong khi trẻ con đi học qua sông phải đu dây hay chui vào túi ni-lông, bệnh nhân phải nằm 2-3 người một giường…Thảm họa môi trường làm cá chết, biển chết, người lao đao. Khi chủ quyền biển đảo trên Biển Đông bị xâm phạm trắng trợn thì tình hình đã rất nghiêm trọng, không thể là bình thường, là “vũ như cẫn” nữa rồi!

Có cảm tưởng rằng, khi trộm cướp đã vào đến trong sân nhà thì hàng xóm gần, hàng xóm xa đua nhau la to giùm, trong khi chủ nhà thì giữ ý, im lặng. Thật là ngược đời!


***

Điều gì có thể ngăn chặn được đà suy thoái về văn hóa?

Trả lời câu hỏi này, nhiều người nghĩ ngay tới sự cần thiết phải cải cách lĩnh vực giáo dục một cách căn bản, toàn diện – từ trong gia đình, nhà trường đến ngoài xã hội. Điều này không sai. Nhưng theo thiển ý của tôi, còn có một việc khác cấp bách hơn, có sức tác động sâu rộng hơn, mạnh mẽ hơn nhiều lần, bao trùm lên mọi lĩnh vực, kể cả giáo dục. Đó là việc cải cách thể chế xã hội; nói khác đi là đổi mới chính trị.

Từ hơn 10 năm trước, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) đã chỉ rõ sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới chính trị.Tiếc rằng trên thực tế chúng ta chưa làm được bao nhiêu theo hướng này.

Thể chế xã hội là điều tác động mạnh nhất đến văn hóa nói riêng. Một thể chế phù hợp, đáp ứng được nhu cầu phát triển con người và xã hội một cách bền vững là thể chế trước tiên phải bảo đảm các quyền cơ bản của con người – đó là “quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do dân chủ, quyền mưu cầu hạnh phúc” như Tuyên ngôn độc lâp năm 1776 của nước Mỹ đã khẳng định và Hồ Chủ tịch đã nhắc lại tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9/1945.

Cần đặc biệt lưu ý tới quyền tự do dân chủ. Đây chính là giá trị cốt lõi của một thể chế tốt đẹp nói chung và của văn hóa nói riêng.

Hiến pháp năm 2013 của nước ta đã long trọng khẳng định các quyền con người và công dân cơ bản: quyền bầu cử, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền biểu tình…theo quy định của pháp luật.

Để những quyền cấp thiết trên đây từ trang giấy còn thơm mùi mực in bước được vào cuộc sống, cần rất nhiều điều luật cụ thể mà Quốc hội và Chính phủ còn mắc nợ nhân dân. Nhiều người tâm đắc với phát biểu rành rẽ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong phiên họp Chính phủ ngày 1 tháng 8 vừa qua: “Ở nước ta hiện nay, con đường dài nhất là con đường từ lời nói đến việc làm!”.

Chỉ có dân chủ mới tạo điều kiện xác lập được trên thực tế tinh thần “thượng tôn pháp luật”. Chỉ có dân chủ mới có thể phát huy tính chủ động sáng tạo, tính hướng thiện, tính cộng đồng của người dân thực sự có sở hữu tài sản trên mọi lĩnh vực xã hội, từ đó hình thành nên một thị trường đúng nghĩa, buộc mọi người phải làm ăn tử tế.

Chỉ có dân chủ mới lựa chọn được những người có tài có đức nhất vào bộ máy quản trị xã hội, loại bỏ hoàn toàn những kẻ bất tài, thất đức leo cao vì chạy chức chạy quyền. Chỉ có dân chủ mới có thể đặt quyền lực dưới sự giám sát hiệu quả, nghiêm khắc, khiến không một vị quan nào có thể có điều kiện tham nhũng mà không bị sớm phát giác. Chỉ có dân chủ mới loại bỏ được tham nhũng – giặc nội xâm tàn phá đất nước, tàn phá đạo đức, văn hóa.

Dân chủ là tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người về sự hiểu biết, về niềm tin và quyền lợi. Không áp đặt thô bạo ý kiến của mình với người nghĩ khác mình, lấy đối thoại thay cho đối đầu. “Cầu đồng tồn dị” là phương châm hành xử của mọi người: cố tìm điểm chung, gác lại bất đồng để cùng ghé vai chung sức làm điều hay cho cả cộng đồng. Với tinh thần khoan hòa khoan dung, người ta sẽ loại trừ được bạo lực ra khỏi đời sống. Thói hung hãn tôn sùng nắm đấm sẽ lùi vào dĩ vãng. “Từ đây người biết thương người / Từ đây người biết yêu người…” (Văn Cao). Và đó chính là văn hóa.

Dân chủ gắn liền với Sự thật. “Một nửa cái bánh mỳ là bánh mỳ; một nửa Sự thật không còn là Sự thật”. Dân chủ có nghĩa là Sự thật tròn vẹn, không thể bị che dấu, dù chỉ một phần. Dân chủ đồng nghĩa với minh bạch và công khai. Dưới ánh sáng của minh bạch và công khai, Giả dối sẽ không còn đất sống.

Dân chủ biến mỗi người dân từ thân phận “thần dân” thụ động trở thành công dân tích cực, không phó mặc việc nước chỉ cho một nhóm người khác lo, mà luôn coi việc nước là việc nhà, không ngoảnh mặt làm ngơ trước các hiểm họa cũng như thời cơ hiện ra trước Đất nước. Con người vô cảm đáng trách sẽ không còn lý do tồn tại.

Dân chủ không phải là không có mặt trái. Nhưng phải thừa nhận rằng “dân chủ là lựa chọn ít xấu nhất” để phát huy sức mạnh tích cực của mọi người dân. Dân chủ quả là “chìa khóa vạn năng” để giải quyết mọi khó khăn. “ Dễ trăm lần, không dân cũng chịu / Khó vạn lần, dân liệu cũng xong” (Thanh Tịnh).

Ngăn chặn đà suy thoái về văn hóa, làm nó trở nên tốt đẹp, đáp ứng được vai trò là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững con người và Đất nước quả là một việc “khó vạn lần”.

Con đường đi đến thực thi dân chủ thực sự cũng là một việc “khó vạn lần”, lắm gian nan, nhiều trở ngại do chính hạn chế của dân trí và dân khí, nhất là do các nhóm lợi ich sẽ cảm thấy bị “thiệt thòi” khi quyền lực ngon lành bấy lâu bị kiểm soát từ phía người dân và từ xã hội dân sự.

Dân chủ không thể từ trên trời rơi xuống. Dân chủ không thể là thứ mà ai đó có thể ban phát. Dân chủ phải đồng tâm hiệp lực đấu tranh mới có thể giành lấy được. Và đây là chủ đề của một bàn luận khác.

Phan Hồng Giang
Viet-Studies
ngày 2/9/2016

Làm sao ngăn được đà suy thoái về văn hóa?


Văn hóa chen lấn, xô đẩy của giới trẻ hiện nay. Nguồn: internet
Văn hóa đã bắt đầu suy thoái từ rất lâu

Tôi nhớ đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, khi miền Bắc đang “vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”, người dân Tràng An đã than phiền về nạn càn quấy của đám trai trẻ mặc quần ống tuýp, để tóc dài khiến các quý thanh niên “Cờ đỏ” đông nhan nhản ở Bờ Hồ phải thủ sẵn kéo lăm le cắt ống quần, cắt tóc dài để dạy chúng bài học vỡ lòng về … phép ứng xử văn hóa (!).

Tôi nhớ cũng vào những năm đó, nhà văn Nguyễn Khải kể chuyện có lần ông đi xem phim ở rạp Bắc Đô, Hàng Giấy. Khi đèn đã tắt, phim đã bắt đầu chiếu, thấy mấy cậu choai choai ngồi hàng phía trên nói chuyện rào rào, phì phèo thuốc lá, ông bèn khẽ khàng nhắc nhở: “Các cháu tắt thuốc đi nhé!”. Bất ngờ ông nghe thấy giọng nạt nộ: “Này thằng già, liệu mà câm mồm đi!”, và các mẩu thuốc cháy dở tới tấp bay vào người ông. Không một ai lên tiếng bênh vực ông. Ông đành phải câm mồm thật, nếu không muốn bị khủng bố tiếp. Nhà văn ngậm ngùi đúc kết: “Thời nay, cái Thiện đã chịu thua cái Ác!”.

Thời ấy người ta cũng đã từng đâm chém nhau vì va chạm … xe đạp. Các vị cán bộ nhà nước mặc đại cán nghiêm chỉnh cũng đã từng không kiêng dè, to tiếng cãi vã so bì nhau từ lạng chè, bao thuốc đến chiếc vành, chiếc lốp hay chục cái nan hoa mua theo sổ căng-tin cơ quan, chưa nói đến cuộc “đại chiến” vì phiếu mua xe đạp phân phối hay những căn phòng nhà tập thể không khép kín…

Thời ấy đã lan truyền trong dân gian câu khái quát về mối quan hệ người – người còn đúng tới tận giờ: “Nhất thân, nhì thế, tam chế (chế độ), tứ tiêu (tiêu chuẩn), ngũ liều, lục đả (cùng lắm thì dở nắm đấm!)”. Hay câu vè khá thật thà nôm na: “Tiền là tiên là phật / Là sức bật tuổi trẻ / Là sức khỏe tuổi già / Là cái đà tiến thân / Là cán cân công lý / Tiền là hết ý!”.

Vài dòng gọi là “ôn nghèo gợi khổ“, hoài niệm thời bao cấp để cùng nhau từ bỏ ảo tưởng: Khi chia đều sự nghèo túng, chúng ta có thể xây dựng được một nền văn hóa đầy ắp tình người. Và đành phải thừa nhận rằng văn hóa chúng ta thực ra đã có dấu hiệu suy thoái từ rất lâu.


***

Thực trạng suy thoái văn hóa hiện nay

Không phải tôi không nhìn thấy những “việc tử tế” trong đời sống chúng ta hiện nay: những tấm gương làm việc hiệu quả, bất chấp hiểm nguy để kiềm chế tội phạm, vượt khó khăn cứu chữa bệnh hiểm nghèo, vật vã mang con chữ lên vùng cao, nhường cơm sẻ áo với người bất hạnh… Tôi vẫn tin trước sau gì thì cái tốt, cái đẹp cũng sẽ trở thành nét chủ đạo trong cuộc sống. Nhưng để sớm đạt tới điều mong muốn đó, chúng ta không thể ru ngủ nhau bằng những lời khen. Hãy đừng vội hài lòng mà cùng hướng sự chú ý đến những mặt tối, dần loại bỏ cái xấu để tự hoàn thiện.

Từ mấy thập niên gần đây, không ai không cảm thấy văn hóa – tôi muốn nói đến văn hóa đạo đức xã hội – đang mỗi năm lại càng thêm lao dốc, chưa hề thấy có điểm dừng. Nhiều người thường nhắc đến những thói xấu dễ nhận thấy ở người Việt như thói ham chuộng hư danh, thói say mê bia rượu, ăn nhậu đánh chén; thói liệt dây thần kinh xấu hổ khi chen lấn xô đẩy nhau, tranh tài lộc, giành nhau miếng ăn; thói quen bắt chước đua đòi, “con gà tức nhau tiếng gáy”… Những nhận xét “bắt bệnh” này đều đúng.

Tuy nhiên, dưới góc nhìn của tôi, xin mạo muội tạm nêu ra 4 biểu hiện, theo tôi là rõ rệt hơn cả của tình trạng suy thoái trên. Đó là: Đồng tiền bất chính; Bạo lực lên ngôi; Giả dối thắng thế; Con người vô cảm.

Đồng tiền bất chính. Đồng tiền không có gì xấu. Bản thân nó là một thành tựu lớn của văn minh nhân loại. Nhưng kiếm tiền bằng cách giẫm đạp lên lợi ích của cộng đồng mới thực sự là đáng chê trách.

Sống chết mặc bay; tiền thầy bỏ túi”. Lời nhận xét sỗ sàng này đã trở thành phương châm ứng xử của vô số người trong xã hội. Người nuôi heo sẵn sàng tiêm thuốc mê, bơm nước lã để tăng trọng lượng con vật khi bán để kiếm thêm lợi nhuận, bất chấp tác hại. Người nông dân vốn hiền lành bỗng biết dành riêng cho mình khoảnh vườn chè, vườn rau sạch, còn rau bẩn, chè bẩn thì để bán cho các bạn được gọi là “công nông liên minh”(!). Hàng giả, hàng lậu, hàng nhái mặc sức tung hoành; không hải quan, biên phòng nào bắt giữ hết được. Một cơ quan nhà nước ở Tổng cục Thủy sản thu bộn tiền do ngang nhiên bán khống hàng trăm giấy chứng nhận (với giá 5 triệu đồng/cái) kiểm định vật tư ngư nghiệp đạt chuẩn. Nhà giáo, thầy thuốc vốn là nghề cao quý được trọng vọng ngày xưa, nay cũng không nhiều người tránh được sự cám dỗ của đồng tiền. Muốn học bạ có điểm cao ư? Không học thêm lớp của các thầy cô trong trường thì đừng có mơ. Muốn cấp cứu ư? Nộp đủ tiền chưa mà muốn vào phòng mổ?

Tệ hại nhất về kiếm tiền bất chính không ai khác ngoài đám quan chuyên nghề “cướp ngày” (“Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”). Cơ hội chui vào Đảng, lý lịch man khai, bằng thật học giả, bỏ vốn ra mua chức, có ghế cao rồi dễ dàng hoàn vốn và thu về lãi khủng.

Không khó biết tham nhũng cụ thể là ai. Nhưng hầu như không mấy ai đủ dũng cảm “vào hang bắt cọp”, để đến nỗi vị quan khả kính nguyên Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh đưa ra nhận xét để đời: “Tham nhũng vẫn ổn định !”.

Từ năm 1999, Hội nghị TƯ 6 (lần 2, khóa VIII) đã ra Nghị quyết về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Gần 15 năm sau, Hội nghị TƯ 4 (khóa XI, năm 2012) lại tiếp tục thông qua Nghị quyết cùng về vấn đề trên, thừa nhận tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức lối sống trong Đảng vẫn không thuyên giảm, nếu không nói là còn nghiêm trọng hơn, “đe dọa đến sự tồn vong của chế độ”. “Người ta ăn của dân không từ một thứ gì” (lời nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan). Từ một vài con sâu, tham nhũng đã phát triển thành “cả bầy sâu”! (chữ dùng của nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang).

Khi một “bộ phận không nhỏ” các quan “phụ mẫu”, những người được cho là “tinh hoa” dân tộc, là thành viên của “đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân ưu tú nhất” lại đồng thời là kẻ cắp theo nghĩa đen thì quả thật văn hóa đạo đức xã hội đã tụt xuống đáy. Cha ông ta đã dạy: “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Tham nhũng là cội nguồn của các bất công, khiến lòng dân không yên. Tham nhũng cũng mở đường cho các suy thoái văn hóa đạo đức ở các tầng lớp khác trong xã hội, trước hết là các thanh niên, khi lớp trẻ mới vào đời thấy các bậc cha chú “đầu têu” hành xử bất chấp đạo đức và pháp luật.

Bạo lực lên ngôi. Có thể là từ trong vô thức, từ tuổi vị thành niên, nhiều người trong chúng ta đã bị ám ảnh bởi các ý tưởng cao siêu, đại loại như: “Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội”; “Đấu tranh giai cấp song hành cùng bạo lực cách mạng”. “Họng súng đẻ ra chính quyền”. “Đấu tranh ôn hòa, bất bạo động là cải lương, là thiếu tinh thần cách mạng triệt để”… Bạo lực tất nhiên khó tránh đổ máu cho cả hai phe. Khi lòng hận thù được nuôi dưỡng, từ “bạo lực cách mạng” đến bạo lực trong đời thường chỉ còn cách vài bước chân… Vô hình trung bạo lực đã được tôn vinh!

Không biết từ bao giờ không ít người Việt Nam chúng ta trở nên hung hãn, gương mặt bặm trợn, lúc nào cũng sẵn sàng nói chuyện bằng dao kiếm. Xe máy va chạm ngoài phố – thay vì ôn tồn xin lỗi nhau rồi đường ai nấy đi, người ta sẵn sàng hùng hổ lao vào giành phần đúng, rồi rút dao, rút kiếm đâm chém nhau. To tiếng khi ăn nhậu, bị coi là “nhìn đểu” – đều có thể đổ máu. Vợ chồng con cái xích mích – ai đó có thể bị tưới xăng đốt. Bảo mẫu túm ngược chân trẻ mười mấy tháng tuổi dúng đầu vào sô nước vì mắc tội … chậm ăn cháo. Cô giáo thẳng tay tát học sinh, bắt học sinh liếm ghế. Nữ sinh xúm vào túm tóc đánh bạn vì những chuyện không đâu…

Đáng lưu tâm nhất là bạo lực không còn hiếm ngay cả với những người được giao nhiệm vụ bảo vệ pháp luật mà Nội quy treo trong phòng làm việc ghi rõ “phải kính trọng, lễ phép với dân”. Bao nhiêu người dân, kể cả trẻ vị thành niên, đang khỏe mạnh, sau khi bị tạm giam, đã bất ngờ trở về với tổ tiên (nhiều người vì lý do “chán đời thắt cổ tự vẫn” ở tư thế ngồi?), hoặc may mắn hơn, thì chỉ bị tàn tật.

Nhiều người xuống đường tham gia tụ tập ôn hòa với các biểu ngữ bảo vệ môi trường sống, bảo vệ chủ quyền biển đảo toàn vẹn đã bị các quý anh mặc trang phục “Thanh niên xung phong” (?) lao vào đấm đá không thương tiếc, không kiêng dè đối với cả phụ nữ và trẻ em vì lý do khó tin là họ đã bị “thế lực thù địch” chưa được phát hiện nào đó “kích động gây rối” (?). Đó quả thật là một hình ảnh không thể xấu hơn trước con mắt của bạn bè quốc tế khi đến thăm Thành phố “Vì hòa bình”!

Bạo lực đẻ ra bạo lực. Chẳng còn mấy người ngạc nhiên khi súng đã nổ, đồng chí đã bắn vào đồng chí ngay trong trụ sở của một Văn phòng Tỉnh ủy…

Giả dối thắng thế. Có lẽ đối với không ít người, giả dối là cách đỡ hao tâm tổn trí nhất để đạt được điều mình muốn. Dốt nát, sợ điểm kém ư? Đã có thể quay cóp bài của bạn hay dấu mang vào phòng thi đủ loại phao bé bằng hai ngón tay. Chưa học hành tử tế để đạt bằng cấp cao ư? Thì đã có vô số trường dởm, thầy dởm, người sẵn sàng thi hộ, viết hộ luận án giúp anh dễ dàng có được tấm bằng để rồi bắt đầu cuộc hành trình leo lên chức này chức nọ. Thích được huân chương hay có danh hiệu anh hùng để lòe thiên hạ ư? Có thể bịa ra các chiến tích để đạt được điều này. Muốn địa phương mình có thành tích vượt trội – nào là mức tăng trưởng kinh tế hai con số, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiêp cao chót vót, nhiều vùng đạt danh hiệu “Nông thôn mới “, số “Gia đình văn hóa” chiếm quá 90%… từ đó để cái gọi là “tài năng lãnh đạo” của mình được cấp trên thừa nhận, cá nhân mình dễ bề tiếp tục leo cao – cách dễ nhất là chỉ đạo thuộc cấp bịa đặt ra các con số đẹp như ý, sẵn sàng vay nợ đầm đìa để đạt bề ngoài phồn vinh. (Xin mở ngoặc nói thêm: Người ta thường phê phán căn bệnh “chạy theo thành tích”; nhưng thử hỏi: Nếu không bày ra chuyện “Thi đua khen thưởng” với cả bộ máy rình rang từ trên xuống dưới thì còn ai phải “chạy theo thành tích”?).

Trong cuốn “Đagestan của tôi” Rasul Gamzatov đã tưởng tượng ra cuộc đua chinh phục lòng người giữa Giả dối và Sự thật. Và không bất ngờ, Giả dối đã giành phần thắng vì thường hay làm mọi người thấy “dễ chịu thoải mái” dù biết là đang lừa nhau, còn Sự thật chịu thua vì khiến người ta “đau đớn lo âu”! Tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật” những năm đầu Đổi mới có vẻ đã mai một khá nhiều.

Dù thế nào thì người ta vẫn hay nhắc nhau: “Nói thật mất lòng” và nhấn mạnh rằng “thuốc đắng” mới “dã tật”. Một xã hội đề cao Sự thật mới mong được phát triển bền vững. Dối trá trước sau gì cũng dẫn tới đổ bể.

Con người vô cảm. Một người ngã xe bên đường, nằm bất động, nhiều xe đi qua không dừng lại cứu giúp, coi như không thấy. Một chiếc xe khách không may lăn xuống vực, nhiều người lần xuống theo; thay vì cứu chữa người bị nạn thì lại thản nhiên lần mò lấy cắp hành lý, tư trang. Một lái xe taxi đang tâm đẩy nữ hành khách bị vỡ ối xuống vệ đường khi bệnh viện đã ở ngay trước mặt. Một bọn gọi là bảo vệ bệnh viện, để bảo kê cho xe cứu thương của mình, “quyết liệt” ngăn cản xe gia đình thuê đưa đứa bé đang hấp hối thở ôxy trở về nhà. Không hiếm các điều tra viên muốn lập thành tích phá án nhanh đã sẵn sàng dùng nhục hình, bức cung ép người dân lành phải nhận tội, chịu ngồi tù oan hàng chục năm trời, gia đình tan nát. Chỉ cần các điều tra viên, các vị giữ quyền công tố, các thẩm phán cầm cán cân công lý có chút tình thương với bị cáo thì họ sẽ động lòng, thoát khỏi trạng thái vô cảm, và thấy ngay những bất cập trong hồ sơ để rồi hủy án.

Cái vô cảm đáng sợ nhất là vô cảm trước tình cảnh hiểm nghèo của Đất nước. Người ta đua nhau quên hết sự đời, say sưa theo bắt con vật ảo Pokemon. Số đông hình như vẫn “bình chân như vại” không nhìn thấy trước mắt mối nguy lù lù như trái núi: Nợ trong nước, nợ ngoài nước tăng cao, mới nứt mắt chào đời đã mang nợ hàng chục triệu đồng; nợ xấu, nợ công sắp vượt ngưỡng an toàn; thu không đủ chi, bội chi ngân sách năm sau cao hơn năm trước; nhiều dự án lỗ hàng ngàn tỷ đồng đắp chiếu; nhiều dự án hàng ngàn tỷ đồng khác được vẽ ra đang chờ duyệt để xây … tượng đài, xây trung tâm hành chính hoành tráng trong khi trẻ con đi học qua sông phải đu dây hay chui vào túi ni-lông, bệnh nhân phải nằm 2-3 người một giường…Thảm họa môi trường làm cá chết, biển chết, người lao đao. Khi chủ quyền biển đảo trên Biển Đông bị xâm phạm trắng trợn thì tình hình đã rất nghiêm trọng, không thể là bình thường, là “vũ như cẫn” nữa rồi!

Có cảm tưởng rằng, khi trộm cướp đã vào đến trong sân nhà thì hàng xóm gần, hàng xóm xa đua nhau la to giùm, trong khi chủ nhà thì giữ ý, im lặng. Thật là ngược đời!


***

Điều gì có thể ngăn chặn được đà suy thoái về văn hóa?

Trả lời câu hỏi này, nhiều người nghĩ ngay tới sự cần thiết phải cải cách lĩnh vực giáo dục một cách căn bản, toàn diện – từ trong gia đình, nhà trường đến ngoài xã hội. Điều này không sai. Nhưng theo thiển ý của tôi, còn có một việc khác cấp bách hơn, có sức tác động sâu rộng hơn, mạnh mẽ hơn nhiều lần, bao trùm lên mọi lĩnh vực, kể cả giáo dục. Đó là việc cải cách thể chế xã hội; nói khác đi là đổi mới chính trị.

Từ hơn 10 năm trước, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) đã chỉ rõ sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới chính trị.Tiếc rằng trên thực tế chúng ta chưa làm được bao nhiêu theo hướng này.

Thể chế xã hội là điều tác động mạnh nhất đến văn hóa nói riêng. Một thể chế phù hợp, đáp ứng được nhu cầu phát triển con người và xã hội một cách bền vững là thể chế trước tiên phải bảo đảm các quyền cơ bản của con người – đó là “quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do dân chủ, quyền mưu cầu hạnh phúc” như Tuyên ngôn độc lâp năm 1776 của nước Mỹ đã khẳng định và Hồ Chủ tịch đã nhắc lại tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9/1945.

Cần đặc biệt lưu ý tới quyền tự do dân chủ. Đây chính là giá trị cốt lõi của một thể chế tốt đẹp nói chung và của văn hóa nói riêng.

Hiến pháp năm 2013 của nước ta đã long trọng khẳng định các quyền con người và công dân cơ bản: quyền bầu cử, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền biểu tình…theo quy định của pháp luật.

Để những quyền cấp thiết trên đây từ trang giấy còn thơm mùi mực in bước được vào cuộc sống, cần rất nhiều điều luật cụ thể mà Quốc hội và Chính phủ còn mắc nợ nhân dân. Nhiều người tâm đắc với phát biểu rành rẽ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong phiên họp Chính phủ ngày 1 tháng 8 vừa qua: “Ở nước ta hiện nay, con đường dài nhất là con đường từ lời nói đến việc làm!”.

Chỉ có dân chủ mới tạo điều kiện xác lập được trên thực tế tinh thần “thượng tôn pháp luật”. Chỉ có dân chủ mới có thể phát huy tính chủ động sáng tạo, tính hướng thiện, tính cộng đồng của người dân thực sự có sở hữu tài sản trên mọi lĩnh vực xã hội, từ đó hình thành nên một thị trường đúng nghĩa, buộc mọi người phải làm ăn tử tế.

Chỉ có dân chủ mới lựa chọn được những người có tài có đức nhất vào bộ máy quản trị xã hội, loại bỏ hoàn toàn những kẻ bất tài, thất đức leo cao vì chạy chức chạy quyền. Chỉ có dân chủ mới có thể đặt quyền lực dưới sự giám sát hiệu quả, nghiêm khắc, khiến không một vị quan nào có thể có điều kiện tham nhũng mà không bị sớm phát giác. Chỉ có dân chủ mới loại bỏ được tham nhũng – giặc nội xâm tàn phá đất nước, tàn phá đạo đức, văn hóa.

Dân chủ là tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người về sự hiểu biết, về niềm tin và quyền lợi. Không áp đặt thô bạo ý kiến của mình với người nghĩ khác mình, lấy đối thoại thay cho đối đầu. “Cầu đồng tồn dị” là phương châm hành xử của mọi người: cố tìm điểm chung, gác lại bất đồng để cùng ghé vai chung sức làm điều hay cho cả cộng đồng. Với tinh thần khoan hòa khoan dung, người ta sẽ loại trừ được bạo lực ra khỏi đời sống. Thói hung hãn tôn sùng nắm đấm sẽ lùi vào dĩ vãng. “Từ đây người biết thương người / Từ đây người biết yêu người…” (Văn Cao). Và đó chính là văn hóa.

Dân chủ gắn liền với Sự thật. “Một nửa cái bánh mỳ là bánh mỳ; một nửa Sự thật không còn là Sự thật”. Dân chủ có nghĩa là Sự thật tròn vẹn, không thể bị che dấu, dù chỉ một phần. Dân chủ đồng nghĩa với minh bạch và công khai. Dưới ánh sáng của minh bạch và công khai, Giả dối sẽ không còn đất sống.

Dân chủ biến mỗi người dân từ thân phận “thần dân” thụ động trở thành công dân tích cực, không phó mặc việc nước chỉ cho một nhóm người khác lo, mà luôn coi việc nước là việc nhà, không ngoảnh mặt làm ngơ trước các hiểm họa cũng như thời cơ hiện ra trước Đất nước. Con người vô cảm đáng trách sẽ không còn lý do tồn tại.

Dân chủ không phải là không có mặt trái. Nhưng phải thừa nhận rằng “dân chủ là lựa chọn ít xấu nhất” để phát huy sức mạnh tích cực của mọi người dân. Dân chủ quả là “chìa khóa vạn năng” để giải quyết mọi khó khăn. “ Dễ trăm lần, không dân cũng chịu / Khó vạn lần, dân liệu cũng xong” (Thanh Tịnh).

Ngăn chặn đà suy thoái về văn hóa, làm nó trở nên tốt đẹp, đáp ứng được vai trò là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững con người và Đất nước quả là một việc “khó vạn lần”.

Con đường đi đến thực thi dân chủ thực sự cũng là một việc “khó vạn lần”, lắm gian nan, nhiều trở ngại do chính hạn chế của dân trí và dân khí, nhất là do các nhóm lợi ich sẽ cảm thấy bị “thiệt thòi” khi quyền lực ngon lành bấy lâu bị kiểm soát từ phía người dân và từ xã hội dân sự.

Dân chủ không thể từ trên trời rơi xuống. Dân chủ không thể là thứ mà ai đó có thể ban phát. Dân chủ phải đồng tâm hiệp lực đấu tranh mới có thể giành lấy được. Và đây là chủ đề của một bàn luận khác.

Phan Hồng Giang
Viet-Studies
ngày 2/9/2016
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑